MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong kinh doanh, các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, lựa chọn một cơ cấu vốn giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu là cả một nghệ thuật trong quản trị tài chính. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn nhƣ thế nào để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đem lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp. Song song với vấn đề đó thì việc tìm ra những nhân tố nào tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp và mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố ra sao cũng là một vấn đề rất đƣợc quan tâm.
Mỗi ngành đều có những đặc thù riêng, cấu trúc vốn đặc trƣng riêng. Vì vậy, nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của một ngành cụ thể là thật sự cần thiết. Đặc biệt, trong khu vực dịch vụ, đóng góp của Ngành hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn vào mức tăng trƣởng chung của cả nƣớc trong những năm gần đây. Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng nhƣ khẳng định và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần xây dựng một cấu trúc vốn hợp lý là một trong những biện pháp hết sức quan trọng.
Với những lý do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của nghiên cứu là nhằm đánh giá mức độ và chiều hƣớng tác động của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty ngành Hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Để đạt đƣợc mục tiêu trên, đề tài đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu sau: 2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn đã có những lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm nào? Kết quả từ các nghiên cứu đó nhƣ thế nào? Có thể sử dụng mô hình nào để xác định mức độ, chiều hƣớng tác động của các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp? Hàm ý từ kết quả nghiên cứu là gì và có thể có khuyến nghị nào? 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tác động của các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành Hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015 Về không gian: 52 Công ty ngành Hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Về nội dung: Nghiên cứu đƣợc giới hạn trong một số vấn đề cụ thể sau: - Các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn, các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp.
- Xác định mức độ, chiều hƣớng tác động của các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Thống kê hệ thống tất cả các tài liệu cần tổng thuật, phát hiện những điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa các tài liệu về nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Ghi nhận những vấn đề đƣợc trình bày trong từng tài liệu, lần lƣợt tổng thuật các khía cạnh nội dung đã khái quát trong tài liệu. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về cấu 3 trúc vốn, tác giả xây dựng giả thuyết, sau đó tiến hành thu thập dữ liệu và xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Sử dụng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn là mô hình ảnh hƣởng cố định và mô hình ảnh hƣởng ngẫu nhiên, chạy dữ liệu bảng trên phần mềm Eviews 7. So sánh, phân tích, đánh giá, tổng hợp để đƣa ra bức tranh khái quát về kết quả. Dựa trên kết quả nghiên cứu thu đƣợc, tác giả rút ra các hàm ý về mặt chính sách và quản trị. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Về ý nghĩa khoa học, luận văn hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận về cấu trúc vốn bao gồm khái niệm, các lý thuyết về cấu trúc vốn.
Về mặt thực tiễn, luận văn đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hƣởng của cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành Hàng tiêu dùng niêm tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đƣa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện cấu trúc vốn của doanh nghiệp nói trên. Bố cục dự kiến của luận văn Chƣơng I: Cở sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn của doanh nghiêp Chƣơng II: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành Hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng IV: Hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đƣa lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp thƣờng đƣợc dùng để tài trợ cho quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp.
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thƣờng biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể ảnh hƣởng tích cực đến lợi ích của chủ sở hữu. Vì vậy việc xem xét lựa chọn điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn tối ƣu luôn là một quyết định tài chính quan trọng của chủ doanh nghiệp.2 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cấu trúc vốn thể hiện chính sách tài trợ trong dài hạn của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc vốn cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh khả năng này, việc lựa chọn chỉ tiêu nào tùy thuộc vào ý nghĩa mà chỉ tiêu đó mang lại cho ngƣời sử dụng và phù hợp với mục tiêu cần xem xét. Một số chỉ tiêu đƣợc sử dụng phổ biến nhƣ: Chỉ tiêu tỷ suất nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác trong tài sản của doanh 5 nghiệp có bao nhiêu phần trăm đƣợc hình thành bằng nguồn nợ phải trả.
Chỉ tiêu tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu hay còn gọi là đòn bẩy nợ thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu, phản ánh tính tự chủ tài chính, năng lực tài chính và khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh doanh. Ý nghĩa nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp Nhằm xác định cấu trúc vốn hợp lý nhất, xem xét việc vay nợ là có lợi hay bất lợi cho doanh nghiệp. Với những mục tiêu kinh doanh nhất định mà nhà quản trị tài chính doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đặc điểm nguồn vốn, căn cứ vào mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro dự kiến để quyết định cấu trúc vốn. Khi doanh nghiệp vay nợ, trƣớc hết đó là nhu cầu tự thân của quá trình phát triển kinh doanh, hơn nữa doanh nghiệp cũng kỳ vọng vốn vay sử dụng có hiệu quả sẽ góp phần gia tăng lợi nhuận của vốn chủ sở hữu, gia tăng lợi ích của cổ đông, đáp ứng mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc tăng cƣờng sử dụng nợ cũng xuất hiện khả năng rủi ro về tài chính, đó là sử dụng vốn vay kém hiệu quả hay nền kinh tế biến động bất lợi sẽ tác động tiêu cực làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán lãi và nợ vay khi đến hạn sẽ dẫn đến doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.2 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN 1.1 Lý thuyết M&M Lý thuyết MM đƣợc Franco Modigliani và Merton Miller nêu ra lần đầu tiên trong bài nghiên cứu “Chi phí sử dụng vốn, tài chính doanh nghiệp và lý thuyết đầu tƣ” đăng trên tạp chí American Economic Review vào năm 1958. Nghiên cứu đoạt giải Nobel kinh tế của M&M có thể xem là linh hồn của lý 6 thuyết cấu trúc vốn hiện đại. Theo MM, trong điều kiện thị trƣờng vốn hoàn hảo, giá trị của một doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn, và không có cấu trúc vốn tối ƣu cho một doanh nghiệp cụ thể.
Tuy nhiên, các giả định của thị trƣờng hoàn hảo của học thuyết MM nhƣ: không có chi phí giao dịch, không có thuế, thông tin đối xứng, lãi suất vay và cho vay nhƣ nhau là mâu thuẫn với các hoạt động trong thế giới thực. Trong nghiên cứu tiếp theo của họ, vào các năm 1963 và 1977, Modigliani và Miller nới rộng giả định của họ bằng cách đƣa thêm các nhân tố thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân vào trong mô hình nghiên cứu của mình. Lý thuyết MM đƣợc phát biểu dƣới hai mệnh đề: mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị DN, mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn. Và cả hai mệnh đề này đƣợc xem xét trong hai trƣờng hợp có thuế thu nhập và không có thuế thu nhập.