MỞ ĐẦU 1. Tong quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Sử dụng thuốc lá ảnh hưởng tiêu cực tới sức khoẻ con người và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong. Thời gian qua có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe con người và nhận thức, thực hiện pháp luật về PCTHCTL được tiễn hành trong nước như sau: Các chuyên gia thuộc Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá quốc gia với sự hỗ trợ của cán bộ Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam sau một thời gian nghiên cứu đã xuất bản tài liệu “Hoi đáp về phòng chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam” năm 2011.
Tài liệu là tập hợp các công trình nghiên cứu về tác hai của thuốc lá và các biện pháp phòng chong tác hại của thuốc lá (PCTHCTL). Các nghiên cứu đã cho thấy, thuốc lá là một trong các nguyên nhân chính gây ra các bệnh không truyền nhiễm. Cụ thể, tính chung trên thé giới thuốc lá gây ra 90% các trường hợp ung thư phổi, 75% các trường hợp phổi tắc nghẽn mãn tính và 25% các trường hợp bệnh tim thiếu máu cục bộ'. Theo ước tính ở Hoa Kỳ thuốc lá là nguyên nhân của khoảng 30% các trường hợp tử vong do bệnh ung thư.
Hút thuốc thụ động là hít phải (hay còn gọi là phơi nhiễm) khói thuốc từ đầu diéu thuốc đang cháy hoặc khói thuốc do người hút thuốc pha ra. Khoi thuốc thụ động chứa hàng nghìn các hóa chat,trong đó có ít nhất là 250 chat là chất gây ung thư hay chất độc hại. Hút thuốc thụ động có thể gây nên nhiềubệnh nguy hiểm ở cả người lớn và trẻ em.Ở người lớn hút thuốc thụ động gây ung thư phối, các bệnh về tim mạch, ung thư vú, bệnh động mạch vành, xơ vữa động mạch, gây các triệu chứng kích thích đường hô hấp, tăng nguy co đẻ non. Thuốc lá gây ra chi phí không 16 cho chăm sóc y tế cho 1 £ ; £ Fe : k Chương trình phòng chong tác hai của thuốc lá Quốc gia.
“Hỏi dap về phòng chong tác hai của thuốc lá tại Việt Nam”, 77.int/vietnam/topics/tobacco/qanda_tobacco_vietnam_2ndedition_vn.pdf 5 những người bị bệnh do hút thuốc lá, cộng thêm với tổn phí do giảm năng suất lao động, do hỏa hoạn và những tôn hại cho môi trường. Nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng của việc sử dụng thuốc lá ở Việt Nam trong những người trưởng thành ty lệ hút thuốc lá ở nam giới là 47,4% ở nữ giới là 1,4%, tong cộng có trên 15 triệu người lớn hiện đang hút thuốc lá, thuốc lào. Khoảng 69,0% những người hút thuốc hút từ 10 điều thuốc lá trở lên mỗi ngày. Các nghiên cứu đưa ra một số giải pháp để PCTHCTL như: Tuyên truyền, giáo dục dé người hút thuốc lá thay đổi hành vi, hạn chế sử dung va tiến tới cai nghiện thuốc lá, thanh thiếu niên không hút thuốc lá, người dân biết tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe; Hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, cai nghiện thuốc lá; tổ chức các mô hình cai nghiện thuốc lá hiệu quả; Triển khai và nhân rộng các mô hình cộng đồng, cơ quan, tổ chức không có khói thuốc lá; Nâng cao năng lực cho mạng lưới cộng tác viên làm công tác phòng chống tác hại thuốc lá; Hỗ trợ công tác phòng chống buôn lậu thuốc lá; nghiên cứu giải pháp chuyển đổi ngành nghề cho người lao động ngành thuốc lá; Vận động tài trợ cho công tác phòng chống tác hại thuốc lá; các văn bản hướng dẫn dưới luật, đồng thời cần có biện pháp thực thi pháp luật và đảm bảo cơ sở hạ tầng cho việc thực thi đó.
Điều này bao gom việc phân công trách nhiệm, bố trí nhân lực, kinh phí, cơ chế thực thi, báo cáo, kiểm tra giám sát, đào tạo nâng cao năng lực, tuyên truyền giáo dục về pháp luật. Công trình nghiên cứu: “Tac động của thuốc lá đối với sức khỏe và kinh la /¿” năm 2011 cua Trung tam nghiên cứu khoa học - Viện Nghiên cứu Lap Ad) pháp nhằm cung cấp cho các Đại biểu Quốc hội sự đánh giá khách quan của người dân về tác hại của thuốc lá, góp phần giúp các Đại biéu Quốc hội có thêm thông tin khi thảo luận về dự án luật phòng chống tác hại của thuốc lá. Kết quả nghiên cứu cho thấy có gần 50% (644/1300 người) trong số người tham gia trong nghiên cứu điều tra có hút thuốc lá/thuốc lào. Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với | nghiên cứu mới đây cua GATS năm 2010 tại Việt Nam (Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành), tại Việt Nam có 47,4% là nam giới và 1,4% là nữ giới từ 15 tudi trở lên (người trưởng thành) hiện đang hút thuốc lá, thuốc lào.
Có tới 53,23% số người được hỏi cho biết trong gia đình mình có người hút thuốc lá, thuốc lào, như vậy ít nhất là 53,23% số người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khói thuốc lá, thuốc lào tại nhà (chưa kế họ trực tiếp là những người hút lá, thuốc lào) hay nói cách khác tỷ lệ hút thuốc thụ động trong nghiên cứu lớn hơn 53,23%. Trong 1300 người tham gia nghiên cứu, có tới gần 90% số người cho rằng việc hút thuốc lá, thuốc lào sẽ gây ảnh hưởng tới những người xung quanh, tuy nhiên cũng có 9,15% cho rằng việc này có ảnh hưởng hay không thì không cần biết, không quan tâm. Hầu hết moi người đều cho rằng hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe, 77,85% số người tham gia nghiên cứu cho biết như vậy, tuy nhiên cũng có tới gần 20% cho rang việc hút thuốc lá có ảnh hưởng tới sức khỏe hay không thì không rõ lắm và không quan tâm. Trong số 1300 người tham gia phỏng vấn, có 84,38% số họ cho rằng biết về các quy định cam hút thuốc lá nơi cộng cộng.
Trong số đó, chỉ có 23,61% cho rằng quy định này là có hiệu quả và 45,49% cho rằng quy định này không có hiệu quả. Theo kết quả điều tra của nghiên cứu này thì các ý kiến cho rằng việc cắm sản xuất, kinh doanh thuốc lá, tích cực tuyên truyền, giáo dục dé người dân biết về tác hại của việc hút thuốc lá, xây dựng Luật về phòng, chống tác hại thuốc lá cũng như in cảnh báo băng hình ảnh trên bao bì của thuốc lá sẽ là những biện pháp tối ưu trong việc hạn chế việc hút thuốc lá hiện nay ở Việt Nam. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc đánh thuế cao các sản phẩm thuốc lá, phạt hành chính, phạt tiền thật nặng những cá nhân hút thuốc lá nơi công cộng, tập thé vi phạm về phòng, chống tác hại thuốc lá sẽ là những biện pháp tích cực. Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rang cam quảng cáo thuốc lá, khuyến mại, tiếp thị thuốc lá, cắm bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, hoặc phụ nữ trong thời kỳ mang thai, hỗ trợ cá nhân hút thuốc lá/nghiện thuốc lá trong việc từ bỏ hút thuốc cũng có ích và có tác dụng.
Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng hut thuốc lá và việc thực hiện chính sách phòng chống tác hại thuốc lá trên địa bàn thành phố Da Nẵng” do BS. Nguyễn Út làm chủ nhiệm đề tài, nghiệm thu năm 2011. Đề tài đã đánh giá thực trạng sử dụng thuốc lá và nhận thức của người dân về các chính sách kiểm soát và phòng chống tác hại của thuốc lá; tìm hiểu các chính sách và thực hiện các chính sách phòng chống tác hại thuốc lá bao gồm: Khả năng thực hiện, kết quả thực hiện, khó khăn, thuận lợi; đề xuất các giải pháp nhằm góp phần đây mạnh công tác kiểm soát và phòng chống tác hại thuốc lá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả cụ thể đề tài đưa ra đó là: Tỷ lệ hút thuốc trên dân số là 21,7%, riêng ở nam giới là 40,3%, nữ 4,5%.
Tỷ lệ gia đình có người hút thuốc là 68,8%. Trình độ học vẫn càng cao, tỷ lệ hút thuốc càng thấp. Trung bình một ngày 1 người hút thuốc chi 6. Ước tinh hang ngày, những người hút thuốc ở thành phố Da Nẵng đã chi một số tiền dé hút thuốc là 1.Có 22,6% trong số những người đã từng hút thuốc lá bỏ được thuốc lá.
Gần một nửa đối tượng bỏ được thuốc chỉ nhờ vào ý chí mà không cần sự hỗ trợ nào. Đối với các chính sách giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, chính sách được biết đến nhiều nhất là quy định về in lời cảnh báo tác hại thuốc lá trên bao bì sản pham (60%). Chính sách hỗ trợ cai nghiện thuốc lá rất ít được đề cập (chi 3,2%). Chính sách liên quan đến quảng cáo, khuyến mãi sản pham thuốc lá mặc dù đã áp dụng từ rất lâu mà vẫn được ít người đề cập đến (16,4%).
Đối với các chính sách giảm cung cấp thuốc lá, chính sách được biết đến nhiều nhất là chống buôn lậu thuốc lá và cắm nhập khẩu thuốc lá (56,2% và 52,3%). Việc cắm bán thuốc lá cho người dưới 18 tuổi chỉ có 27% người đề cập đến. Người dân có xu hướng ủng hộ các chính sách liên quan đến phòng chống tác hại thuốc lá. Đối với việc cắm hút thuốc nơi công cộng (89,2% ủng hộ hoặc rất ủng hộ), quy đỉnh in những hình ảnh cảnh báo tác hại thuốc lá trên bao bì sản phẩm có 87,6% ủng hộ hoặc rất ủng hộ, tăng thuế thuốc lá được 65,7% ủng hộ hoặc rất ủng hộ.
Hành vi mà người dân đã thực hiện dé gop phần làm giảm tác hại thuốc lá bao gồm những hành vi giúp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Đối với người hút thuốc, hành vi của họ theo xu hướng hút ít lại (59,1%), không hút gần người khác (40,9%) hoặc không hút thuốc nơi công cộng (35,4%). Và nói về việc thực hiện các chính sách hiện hành về phòng chống tác hại thuốc lá thì hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều cho rang các chính sách quy định những nơi không hút thuốc lá là phù hợp nhưng việc thực hiện còn hạn chế. Quy định chế tài xử phạt vi phạm đối với hành vi hút thuốc lá nơi làm việc và nơi công cộng theo quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế chưa được thực hiện, số lượng người hút thuốc tại nơi công cộng và chỗ đông người vẫn không có chiều hướng thuyên giảm.Trong những năm gan đây thuế và giá thuốc lá có tăng nhưng chưa phù hợp.
Các văn bản chính sách chỉ được triển khai ở các sở ban ngành và chưa bao phủ rộng khắp đến các thành phần có liên quan, đặc biệt là các đại lý bán buôn, bán lẻ.