chương 1 giải thích cấu trúc của khóa luận. Các chương tiếp theo sẽ sử dụng nội dung mà tác giả đưa ra ở đây để làm cơ sở. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU Chương 2: Tổng hợp các cơ sở lý thuyết và các học thuyết liên quan về Nắm giữ tiền mặt và Nhận thức tham nhũng. Từ đó đưa ra các yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt bên cạnh yếu tố tham nhũng mà bài chúng tôi đưa ra.
Bên cạnh đó, chương 2 cũng trình bày những bài nghiên cứu thực nghiệm trước đó có liên quan đã được công bố trước đó ở trong và ngoài nước. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THAM NHŨNG VÀ NẮM GIỮ TIỀN MẶT DOANH NGHIỆP. Khái niệm về tham nhũng. Tham nhũng Nền kinh tế mở và hội nhập đã và đang dẫn đến “Tham nhũng” trở thành một trong những thách thức mà chính phủ, các tập đoàn lớn cũng như các doanh nghiệp và thị trường đang phải đối mặt.
Tham nhũng đang là mối đè dọa rất lớn ảnh hưởng đến nền kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị. Tham nhũng là hành vi của công chức nhằm khai thác quyền lực công vì lợi ích riêng của họ (Jain, 2001). Tham nhũng làm xoi mòn lòng tin của công chúng vào chính phủ, lãng phí nguồn lực công và gây ra bất công xã hội. Vào năm (2012) Ngân hàng Thế giới ước tính cái giá phải trả cho tham nhũng là không ít hơn 2,6 nghìn tỷ USD trên toàn Thế giới, Ngân hàng Thế giới (2017) ước tính rằng các doanh nghiệp và cá nhân phải trả khoảng 1,5 nghìn tỷ USD (tương đương 2% GDP toàn cầu) mỗi năm để hối lộ.
Vì vậy, tham nhũng đã trở thành một trong những vấn đề nan giải nhất trong thế giới thực và thế giới học thuật. Một số nghiên cứu trước đây chứng minh rằng tham nhũng ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô như đầu tư quốc gia và tăng trưởng kinh tế (Brunetti và cộng sự, 1998; Doh và Teegen, 2003; Mauro, 1995; Zakharov, 2018), dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục (Gupta và Tiongson, 2000), đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế (Lambsdorff và Cornelius, 2000). Tuy nhiên, ở cấp độ vi mô, mối quan hệ giữa môi trường tham nhũng và các 10 quyết định tài chính doanh nghiệp vẫn còn gây tranh cãi. Một mặt, một số nghiên cứu trước đây thừa nhận rằng chính sách tài chính doanh nghiệp là một kênh tiềm năng để tránh việc tìm kiếm đặc lợi (McChesney, 1987).
Các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng các chính sách công bố thông tin không minh bạch hơn để đối phó với môi trường tham nhũng ngày càng gia tăng (Durnev và Fauver, 2008; Stulz, 2005). Mặt khác, các nghiên cứu khác cho rằng doanh nghiệp coi môi trường tham nhũng là cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh. Các công ty sẵn sàng hối lộ để nhận được dịch vụ công thuận lợi (“tiền bôi trơn”) hoặc để giảm thiểu sự xâm hại của nhà nước (“tiền bảo vệ”) (Claessens và cộng sự, 2008; Tahoun, 2014; Wei và Kaufmann, 1999; Xu et al. Ngoài ra, Svensson (2003) nhận thấy rằng các doanh nghiệp ở Uganda trả “tiền bôi trơn” cho các quan chức nhà nước có quyền lực tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của họ.
Cai và cộng sự (2004), Wang và You (2012) tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho cả hai cơ chế ở Trung Quốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cũng phát hiện ra rằng tham nhũng ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định và hiệu quả hoạt động của công ty. Nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index – CPI) Một chỉ số được tổ chức (Transparency International - TI) công bố mỗi năm. CPI đo lường mức độ tham nhũng được xem là tồn tại trong các cơ quan chính phủ và các tổ chức công cộng ở một quốc gia cụ thể.
CPI dựa trên dữ liệu và thông tin từ nhiều nguồn, chẳng hạn như các cuộc khảo sát về doanh nghiệp và chuyên gia. Điểm số từ 0 đến 100 được sử dụng để hiển thị kết quả cuối cùng của CPI. Điểm cao hơn cho thấy môi trường ít tham nhũng hơn. Mối quan hệ giữ tham nhũng và nhận thức tham nhũng (CPI) Mối quan hệ giữa CPI và tham nhũng là đặc biệt quan trọng.
CPI không phải là một đo lường trực tiếp của tham nhũng. Thay vào đó, nó là một chỉ số thể hiện sự nhận thức của mọi người về mức độ tham nhũng trong một quốc gia. Mặc dù không thể đo lường tham nhũng trực tiếp, CPI thường được coi là một chỉ số tiêu biểu cho 11 mức độ tham nhũng tại một quốc gia vì nó phản ánh ý kiến của các chuyên gia và doanh nghiệp có kiến thức về tình trạng tham nhũng của quốc gia đó. Chỉ số CPI càng cao đồng nghĩa với việc môi trường trong kinh doanh và hành chính của doanh nghiệp, quốc gia đó đáng tin cậy hơn và ít bị ảnh hưởng bởi tham nhũng và ngược lại.
Tóm lại, chỉ số nhận thức tham nhũng càng cao ( hiểu biết sâu và rõ về vấn đề tham nhũng) thì doanh nghiệp có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt hơn. • Đo lường Quoc Trung Tran (2020), sử dụng thước đo kết hợp về tham nhũng là Chỉ số (CPI) được Tổ chức Minh bạch Quốc tế và Ngân hàng Thế giới công bố hàng năm. Các thước đo từ hai trang cung cấp thông tin này chắc chắn để nghiên cứu và là các chỉ số tổng hợp được tạo ra từ các nguồn thông tin liên quan đến tham nhũng khác nhau phản ánh cả các thước đo bên trong và bên ngoài. Do đó, chúng được coi là những đại diện tốt nhất cho tham nhũng (Asiedu và Freeman, 2009) và được dùng phổ biến trong các nghiên cứu trước đây (Chen và cộng sự, 2015; Thakur và Kannadhasan, 2019).
Theo như thông tin trước đây, vào 2012; thang đo CPI là từ 0 đến 10. Tuy nhiên, từ năm 2012 thang đo được thay thế bằng thang đo từ 0 đến 100. Giá trị CPI càng thấp thể hiện tham nhũng càng cao. • Mối quan hệ giữa tham nhũng và độ nhạy cảm của dòng tiền Almeida và cộng sự (2004), cho thấy các doanh nghiệp tích lũy tiền từ dòng tiền; do đó, trong bài viết này, chúng tôi mở rộng hướng nghiên cứu này bằng cách điều tra xem tham nhũng ảnh hưởng như thế nào đến việc nắm giữ tiền mặt và độ nhạy cảm của dòng tiền trên toàn thế giới.
Chúng tôi cho rằng tham nhũng có thể ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của dòng tiền thông qua hai cơ chế. Thứ nhất, theo Svensson (2003), Thakur và Kannadhasan (2019), Wang and You (2012), Xu và cộng sự (2017), các nhà quản lý doanh nghiệp có động cơ cao hơn để tích lũy nhiều tiền hơn từ dòng tiền để chuẩn bị cho việc chi trả hối lộ trong để thu được lợi ích từ những cơ hội tham nhũng. 12 Thứ hai, các nhà quản lý doanh nghiệp cơ hội tận dụng môi trường tham nhũng để tăng quyền sở hữu cổ đông bằng cách tiết kiệm nhiều tiền hơn từ dòng tiền. Theo lý thuyết đại diện, các nhà quản lý có hướng đi khác là sử dụng nguồn lực của công ty để đầu tư vào các dự án không mang lại lợi nhuận nhằm phục vụ lợi ích của chính họ thay vì tối đa hóa tài sản của cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) và do đó họ có khả năng nắm giữ nhiều tiền mặt hơn cần thiết cho việc đầu tư quá mức của họ vào những dự án không mang lại lợi nhuận này (Jensen, 1986).
Trong môi trường tham nhũng cao, các doanh nghiệp có nhiều khả năng đưa hối lộ hơn. Khái niệm về tiền mặt • Khái niệm Theo từ điển kinh tế học, tiền mặt (CH) theo nghĩa hẹp, thì đó là tiền được NHNN phát hành và nằm trong tay công chúng hoặc ngoài hệ thống ngân hàng. Còn theo nghĩa rộng hơn thì tiền mặt (CH) được hiểu là những thứ có thể sử dụng trực tiếp để chi trả, thanh toán cho các khoản giao dịch. Do đó, Tiền mặt được coi là có tính thanh khoản cao nhất và được xem là thước đo trả nợ của doanh nghiệp.
Nắm giữ tiền mặt là một vấn đề đáng chú ý bởi bất kì một doanh nghiệp cũng cần phải có khả năng thanh khoản. Do đó, doanh nghiệp có thể trả hết nợ đúng thời hạn và kể cả đang trong giai đoạn khó khăn. Theo các nghiên cứu về tài chính, thì tiền mặt bao gồm các khoản tiền và tương đương tiền, tương đương tiền có thể hiều là các khoản có thể chuyển đổi thành tiền trong khoản thời gian ngắn hạn: “Tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu và các khoản tiền gửi ngắn hạn ở ngân hàng”, Từ góc độ tài chính, theo Pascal (2005) “ Tiền mặt được xác định bởi tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp”. Theo Chen và Chuang (2009), các công ty có xu hướng nắm giữ tiền mặt để hạn chế chi phí giao dịch và cũng nhằm mục đích ngăn chặn sự mất mát đầu tư nguồn vốn ngắn hạn (những dự án đầu tư có rủi ro cao, tạo ra giá trị không cao trong tương lai).
Theo quan điểm của nhiều nhà đầu tư, do bởi họ là người ngoài công ty nên họ thường thấy khoản mục tiền mặt trên bảng cân đối kế toán nhiều thì bao giờ cũng yên tâm hơn các công 13 ty có lượng dự trữ tiền mặt ít hơn. Nguyễn Minh Kiều (2013) đã đưa ra một khái niệm chung để hiểu hơn về khái niệm tiền mặt. Theo đó, tiền mặt được xác định là các khoản tiền có sẵn để sử dụng bất cứ lúc nào cho mục đích tài chính, bao gồm cả tiền mặt có trong quỹ của doanh nghiệp và tiền trong tài khoản thanh toán tại các ngân hàng. Các loại đầu tư chứng khoán ngắn hạn khác được xem như tài sản tương đương tiền mặt có hiệu quả nhất, vì chúng có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt.
Trong kế toán, tiền mặt được tính bằng tổng số tiền và các tài sản tương đương tiền, bao gồm cả các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn. Do đó, tiền mặt đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tài sản lưu động của doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tài chính và quản lý rủi ro của họ. Theo nghị định số 222/2013/NĐ-CP định nghĩa như sau: Tiền mặt là tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà Nước phát hành. • Đo lường Nắm giữ tiền mặt, theo Martinez-Sola và đồng nghiệp (2013), được đo lường bằng cách chia số tiền mặt, các khoản tương đương tiền mặt của doanh nghiệp cho tổng tài sản.