Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi Hà Nội đã và đang hình thành nhiều vùng tập trung, quy mô lớn; ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, mang lại giá trị cao, xây dựng chuỗi liên kết, giúp người dân phát triển sản xuất bền vững và tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu; góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi Thủ đô phát triển bền vững, hiệu quả. Thực hiện dự án “Chuỗi sản xuất và cung cấp sản phẩm chăn nuôi an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020”, đến nay, Hà Nội đã xây dựng, phát triển được 46 mô hình chuỗi liên kết an toàn thực phẩm từ sản xuất đến tiêu thụ. Ngoài phát triển chuỗi, Hà Nội còn hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu tại các chuỗi. Đặc biệt, đã có 8 nhãn hiệu chăn nuôi được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng bảo hộ, trong đó có 5 nhãn hiệu được cấp bằng bảo hộ “Nhãn hiệu tập thể” gồm: Gà đồi Ba Vì, gà Mía Sơn Tây, gà đồi Sóc Sơn, vịt Vân Đình (huyện Ứng Hòa) và trứng vịt Liên Châu (huyện Thanh Oai).
Vịt cỏ Vân Đình là giống vịt cỏ bản địa được chăn thả theo hình thức truyền thống trên các đồng chiêm của huyện Ứng Hòa, Vân Đình, Hà Nội. Vịt cỏ Vân Đình đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng, vốn xưa nay được kinh doanh không những ở Vân Đình, mà còn là món ẩm thực Hà thành đã có trong thực đơn của rất nhiều nhà hàng khắp trong Nam ngoài Bắc, chúng là nguyên liệu để chế biến nhiều món ăn ngon mà theo người dân địa phương là không có nơi nào có thể ngon hơn điều này khiến Hà Nội được xem là thủ phủ vịt cỏ. Hiện nay, giống vịt cỏ này có nguy cơ bị mai một ngay trên vùng đất truyền thống của chúng do phải cạnh tranh với giống vịt bầu cánh trắng nhập theo đường tiểu ngạch từ Trung Quốc và được nuôi đại trà do năng suất cao hơn, giá thành rẻ hơn. Việc nhân giống giống vịt này hiện chủ yếu bằng phương pháp sinh sản truyền thống, đàn vịt nuôi chăn thả nhảy giống tự nhiên với những nguy cơ sau: bị cận huyết, suy giảm chất lượng con giống do việc phối giống không được kiểm soát; việc nuôi lẫn con trống và con mái dẫn đến suy giảm chất lượng tinh của con trống do ăn cùng chế độ dinh dưỡng với vịt mái do đó hiệu quả thụ tinh kém; trứng vịt được đẻ tự nhiên dễ 1 dập vỡ, thất lạc và nhất là nhiễm mầm bệnh làm giảm tỷ lệ trứng nở / tổng số trứng thu nhận… Việc nghiên cứu thụ tinh nhân tạo vịt đã được Trung tâm Vịt Đại Xuyên - Viện Chăn nuôi thực hiện nhưng chủ yếu để tạo con lai ngan vịt thương phẩm phục vụ sản xuất, chưa áp dụng trên Vịt cỏ Vân Đình.
Ngoài ra, do tinh dịch thu nhận được của vịt rất ít, chỉ khoảng hơn kém 0,5 ml/vịt trống do đó rất nhanh suy giảm chất lượng tinh sau khi khai thác do tiếp xúc với không khí và nhiệt độ thay đổi; vì vậy việc sử dụng kết hợp kỹ thuật thụ tinh nhân tạo vịt kết hợp sử dụng môi trường pha loãng tinh sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn, một là tinh sẽ được bảo quản sau nhiều giờ thậm chí sang ngày hôm sau vẫn đảm bảo chất lượng để thụ tinh, hai là do chất lượng tinh pha loãng tốt nên giảm được lượng tinh phối cho con mái nên tiết kiệm được lượng tinh, tăng số liều tinh phối cho vịt mái giúp tăng hiệu quả kinh tế. Việc chế tạo các môi trường pha loãng và bảo quản tinh gia cầm, thủy cầm đã được nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, hiện có ít nhất hai công thức pha loãng tinh vịt có hiệu quả có thể thử nghiệm đối với vịt cỏ Vân Đình. Việc sử dụng môi trường pha loãng tinh sử dụng cho thụ tinh nhân tạo ở vịt cỏ Vân Đình hiện vẫn chưa được cơ sở nào nghiên cứu và áp dụng. Trên cơ sở đó, em lựa chọn đề tài “Nghiên cứu nhân giống vịt cỏ Vân Đình bằng thụ tinh nhân tạo sử dụng môi trường pha loãng tinh gia cầm” 1.
Mục đích nghiên cứu - Mục đích chung: Áp dụng được kỹ thuật thụ tinh nhân tạo kết hợp sử dụng môi trường pha loãng tinh để nhân giống vịt cỏ Vân Đình góp phần phát triển chăn nuôi và thương hiệu của giống vịt này. - Mục đích cụ thể: + Đánh giá được thực trạng chăn nuôi và giá trị thương hiệu của vịt cỏ Vân Đình tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội. + Đánh giá được chất lượng tinh của vịt cỏ Vân Đình nuôi lồng theo phương thức chăn nuôi công nghiệp. + Đánh giá được các chỉ tiêu sinh sản của vịt mái Vân Đình nuôi lồng theo phương thức chăn nuôi công nghiệp.
2 + Đánh giá được hiệu quả bảo quản tinh vịt cỏ Vân Đình trong môi trường pha loãng tinh gia cầm. + Đánh giá được hiệu quả thụ tinh nhân tạo có sử dụng môi trường pha loãng tinh ở vịt cỏ Vân Đình. Yêu cầu - Điều tra được tình hình chăn nuôi vịt cỏ Vân Đình trên địa bàn huyện Ứng Hòa bằng phương pháp điều tra thu thập thông tin, trong đó bao gồm việc điều tra tại 100 cơ sở và hộ chăn nuôi vịt. - Đánh giá được các chỉ tiêu chất lượng tinh vịt cỏ Vân Đình gồm: thể tích tinh, hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tỉ lệ tinh trùng kỳ hình của ít nhất 10 vịt trống có độ tuổi từ 10-16 tháng tuổi được nuôi trên lồng theo phương thức chăn nuôi công nghiệp, tần suất 1 ngày/lần và 2 ngày/lần, lặp lại thí nghiệm ít nhất 10 lần.
- Đánh giá các chỉ tiêu sinh sản của ít nhất 100 vịt mái Vân Đình có độ tuổi từ 10-16 tháng nuôi lồng theo phương thức chăn nuôi công nghiệp gồm các chỉ tiêu: tỉ lệ đẻ trứng, số trứng trung bình/mái theo dõi trong 5 tháng, khối lượng trứng trung bình. - Đánh giá được chất lượng tinh bảo quản ở 10°C sau 1 và 2 ngày bảo quản trong môi trường pha loãng tinh gia cầm của ít nhất 10 vịt trống với tần suất khai thác tinh 3 ngày/lần vào buổi sáng, gồm các chỉ tiêu: hoạt lực tinh trùng và tỉ lệ tinh trùng kỳ hình, lặp lại thí nghiệm ít nhất 10 lần. - Đánh giá được hiệu quả thụ tinh nhân tạo cho vịt cỏ Vân Đình gồm chỉ tiêu: tỉ lệ trứng có phôi và tỉ lệ trứng nở của ít nhất 100 vịt mái có độ tuổi từ 10-16 tháng được phối tinh nhân tạo bằng tinh pha loãng trong môi trường pha loãng tinh gia cầm, mỗi liều linh có thể tích 0,05ml với tổng số tinh trùng là 100 triệu, hoạt lực tinh trùng trên 70%. Theo dõi liên tục trong vòng 5 tháng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những thành tựu về công nghệ thụ tinh nhân tạo trong nhân nhanh đàn gia cầm và thủy cầm trên thế giới Từ những năm đầu thập kỉ 60 của thế kỉ trước, phối tinh nhân tạo đã trở thành kĩ thuật cốt lõi của công nghệ sinh sản ở gà tây và ngày càng được áp dụng một cách rộng rãi trong nền công nghiệp sản xuất gà tây thương phẩm. Ở những giống gà tây ức rộng và nặng cân, do sự chênh lệch lớn về thể vóc giữa con trống và con mái (con trống có thể nặng tới 33kg trong khi con mái chỉ nặng 9kg) kéo theo hiệu quả thụ tinh thấp khi áp dụng dụng phương thức phối giống tự nhiên vì vậy kĩ thuật phối tinh nhân tạo càng cần phải được áp dụng trong ngành công nghiệp sản xuất gà tây thương phẩm. Ở các giống gà chuyên thịt, có sự thiếu hụt số lượng con trống do được nuôi theo chế độ xuất thịt nên kĩ thuật phối tinh nhân tạo có hiệu quả kinh tế cao trong quản lí con giống của những giống gà này.
Ở vịt và ngỗng, việc thực hiện quy trình phối tinh nhân tạo không đơn giản vì ống dẫn trứng của chúng không nặn lộn ra ngoài được giống như ở gà và gà tây, vì vậy nhu cầu áp dụng phối tinh nhân tạo trong sản xuất vịt và ngỗng thương phẩm rất hạn chế. Ở các loài chim hạc và chim hoang dã, kỹ thuật phối tinh nhân tạo cũng đã được áp dụng thành công khi khắc phục được sự khác biệt về thể vóc và mức độ bị stress ở những loài chim này. Hiệu quả thụ tinh nhân tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó, việc bảo tồn mẫu tinh sau khi ra khỏi cơ thể con trống là nhân tố chính. Môi trường bảo quản tinh là những dung dịch muối đệm được sử dụng để duy trì khả năng tồn tại của tinh trùng trong điều kiện in vitro và tăng nhiều nhất có thể số lượng vịt mái có thể được thụ tinh.
Việc pha loãng tinh là rất quan trọng vì tinh của gia cầm có độ nhớt và mật độ tinh trùng rất cao, khoảng 6 đến 12 tỷ tinh trùng/ml. Các công thức pha môi trường pha loãng tinh được dựa trên thành phần hóa học của tinh dịch gà và gà tây (Mohan và cs, 2018). Axit glutamic là thành phần anion quan trọng nhất của tinh dịch gia cầm nên đã trở thành thành phần chính của môi trường pha loãng (Mohan và cs, 2018). Đã có nhiều loại môi trường pha loãng tinh gia cầm và thủy cầm được công bố và thương mại hóa.
Một số tác giả đã tiến hành các phân tích thống kê để so sánh sự khác biệt về thành phần của các môi trường pha loãng và hiệu quả thụ tinh thông qua việc tổng hợp 4 kết quả từ các nghiên cứu trước đó (Bakst và cs, 2013). Kết quả phân tích so sánh cho thấy khó có thể rút ra một công thức môi trường pha loãng tinh vịt tiêu biểu nhất bởi sự khác nhau về phương diện thiết kế thí nghiệm như thời gian phối tinh, độ sâu phối tinh trong âm đạo vịt mái, số lượng tinh trùng và tần suất phối tinh. Mặc dù vậy, tất cả các loại môi trường pha loãng tinh vịt đều có mặt một số thành phần cơ bản như các chất duy trì độ pH tinh bảo quản, duy trì áp lực thẩm thấu và chất cung cấp năng lượng cho tinh trùng. Tỉ lệ thụ tinh bằng sử dụng tinh sau 6h bảo quản đối với tinh gà tây và sau 24h bảo quản ở nhiệt độ mát đối với tinh gà đạt tương đương với tỉ lệ thụ tinh bằng phối tinh nhân tạo sử dụng tinh tươi (Bakst và cs, 2013).