Đặt vấn đề Thảo dược là một nguồn nguyên liệu thực vật quý giá, cung cấp dược liệu để sản xuất và chế biến các loại thuốc hữu ích phục vụ cho việc chữa bệnh và phục hồi sức khỏe cho con người. Hà thủ ô đỏ được tìm thấy ở Trung Quốc vào năm 713 và được sử dụng như một loại thảo dược trường sinh của con người. Trên thế giới Hà thủ ô đỏ có nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Ấn Độ. Ở Việt Nam Hà thủ ô đỏ mọc hoang từ các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn [6].
Hà thủ ô đỏ chủ yếu được biết đến như vị thuốc bổ, trị suy nhược thần kinh, ích huyết, khoẻ gân cốt, đen râu tóc. Theo y học cổ truyền, Hà thủ ô có vị đắng chát, hơi ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ gan thận, ích tinh huyết, mạnh gân xương, nhuận tràng. Được dùng để bổ máu, chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, thiểu năng tuần hoàn, ngủ kém, đau lưng mỏi gối, khô khát táo bón. Trong củ Hà thủ ô đỏ có chứa nhiều chất quan trọng như emodin, chrysophanol, rhein, physcion, tinh bột, lipit…Trong tự nhiên Hà thủ ô đỏ có thể gây trồng bằng hạt hay bằng dây, sau 3-4 năm thì thu hoạch, lấy củ rửa sạch, bổ thành miếng phơi khô để làm thuốc.
Lá có thể dùng làm rau, dây lá cũng có thể dùng làm thuốc [2]. Theo Chang Lin (2003) cây Hà thủ ô đỏ được nuôi trồng trong nhà kính sẽ cho tỉ lệ các chất emodin và physcion cao hơn cây ở ngoài tự nhiên [15]. Trước đây nguồn Hà thủ ô đỏ ở nước ta khá dồi dào nhưng gần đây do khai thác quá mức và nạn phá rừng nên lượng Hà thủ ô đỏ bị giảm sút nghiêm trọng, không cung cấp đủ nguồn dược liệu cho việc chế biến và sản xuất thuốc chữa bệnh cho người dân. Do đó, việc nhân nhanh số lượng cây Hà thủ ô đỏ bằng phương pháp nuôi cây mô tế bào thực vật để đáp ứng cung cấp nguồn dược liệu là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần vào công tác nhân giống cũng như việc nhân nhanh cây Hà thủ ô đỏ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, và hiệu quả sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu nhân giống cây Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum Thunb) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật ” 2 1. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhân giống cây Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum Thunb) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Yêu cầu nghiên cứu - Xác định được ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng dung dịch HgCl2 0,1% đến khả năng diệt nấm và vi khuẩn.
- Xác định được ảnh hưởng của một số môi trường đến khả năng tạo chồi của cây Hà thủ ô đỏ. - Xác định được ảnh hưởng của BA, Kin, NAA đến khả năng nhân nhanh chồi cây Hà thủ ô đỏ. - Xác định được ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng ra rễ cây Hà thủ ô đỏ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của giống Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum Thunb) tại phòng thí nghiệm. - Là tài liệu tham khảo thêm cho việc nghiên cứu và sản xuất tại các cơ sở. Ý nghĩa thực tiễn - Nhân nhanh giống Hà thủ ô đỏ trong phòng thí nghiệm, từ đó tăng nguồn cây giống phục vụ sản xuất. - Bảo tồn được loại dược liệu quý.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây Hà thủ ô đỏ 2. Nguồn gốc và phân bố Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora, đồng nghĩa: Polygonum multiflorum Thunb). Theo hệ thống học thực vật mới nhất, cây Hà thủ ô đỏ được phân loại như sau: - Nghành (Division): Magnoliophita - Lớp (Class): Eudicots - Bộ (Ordo): Caryophyllales - Họ (Familia): Polygonaceae - Chi (Genus): Fallopia - Loài (Species): Fallopia multiflora Tên gọi khác cây Hà thủ ô đỏ: Dạ giao đằng, Mã ôn, Khua lình (Thái ), Mán năng ón (Tày thổ) [7].
Trên thế giới Hà thủ ô đỏ phân bố nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan…Ở Việt Nam, chúng thường mọc hoang ở rừng núi, nhiều đất ở Tây Bắc, Lai Châu, Lào Cai hay ở vùng thấp như Sài Sơn (Sơn Tây) hoặc ở Thanh Hoá, Nghệ - Tĩnh đều có [7].1 Cây Hà thủ ô đỏ. Đặc điểm hình thái Hà thủ ô đỏ là loài dây leo, sống nhiều năm. Thân rễ phồng thành củ, thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân. Lá mọc so le, có cuống dài.
Phiến lá hình tim, dài 4 – 8 cm, rộng 2,5 – 5 cm, đầu nhọn, mép 4 nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hai mặt đều nhăn. Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân. Hoa tự chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau, ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng.
Bao hoa màu trắng, 8 nhuỵ (trong số đó có 3 nhuỵ hơi dài hơn). Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau. Đầu nhuỵ hình mào gà rủ xuống. Quả 3 góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên [2].3 Tác dụng dược lý Theo Đông y hà thủ ô vị đắng ngọt chát, tính hơi ôn; vào các kinh can và thận.
Có tác dụng bổ can thận, dưỡng huyết, bổ âm, giải độc, nhuận tràng thông tiện. Dùng cho các trường hợp can thận âm hư, huyết hư, đau đầu hoa mắt chóng mặt, đau lưng mỏi gối ù tai điếc tai, râu tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng, táo bón, hội chứng lỵ mạn tính, trĩ xuất huyết, sốt rét, lao hạch, bệnh mạch vành, tăng huyết áp, tăng mỡ huyết, xơ vữa động mạch. Râu tóc có mối quan hệ mật thiết với tạng thận. Thận tàng tinh, tinh sinh huyết.
Tóc, râu là phần thừa của huyết cho nên nếu thận hư, yếu thì râu, tóc không được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ sớm bạc trắng và rụng. Hà thủ ô có công dụng bồi bổ can thận, dưỡng huyết tư tâm, bởi vậy khả năng làm đen râu, tóc. Ngoài ra, thận tinh sung túc thì sự phát triển của cơ thể diễn ra thuận lợi, năng lực tính dục được khôi phục và nâng cao nên dễ sinh con. Sự già yếu của con người cũng do quá trình suy giảm của thận tinh quyết định, bởi vậy việc sử dụng Hà thủ ô lâu dài để bổ ích thận tinh cũng có tác dụng kéo dài tuổi thọ [1].
Theo các kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, Hà thủ ô có tác dụng dược lý khá phong phú như giúp đẩy lui tuổi già, tăng trí nhớ, ngừa bệnh Alhzeimer, bệnh Parkinson, trị mất ngủ, mệt mỏi, giúp tóc lâu bạc, kháng khuẩn, trị bệnh ngoài da, giảm cholesterol LDL, tăng cholesterol HDL, giảm triglyxerit, hạ đường huyết, giúp ngăn ngừa tình trạng vữa xơ động mạch, bảo vệ tế bào gan, thúc đẩy quá trình sản sinh hồng cầu, nâng cao khả năng miễn dịch, cải thiện hoạt động của hệ thống các tuyến nội tiết, đặc biệt là tuyến thượng thận và giáp trạng. Ngoài ra, hà thủ ô còn có tác dụng kháng khuẩn, nâng cao khả năng chống rét của cơ thể, nhuận tràng và giải độc [10]. 5 Lexitin là một photphatit được tạo thành từ sự kết hợp giữa axit glyxerophotphorit với một phân tử cholin và hai axit béo. Trong Hà thủ ô đỏ lexitin chiếm một lượng nhỏ nhưng nó là thành phần quan trọng tham gia tích cực tới quá trình quan trọng trong hoạt động sống.
Theo một công trình nghiên cứu ở đại học Hamburg, Cộng hòa liên bang Đức, lượng chất béo trong mỡ giảm thiểu rõ rệt ở người được điều trị hỗ trợ với lexitin trong 4 tuần liên tục. Nó giúp việc chuyển hóa mỡ và phân hủy chất béo, chất xơ cứng động mạch trong cơ thể cũng như trong mạch máu (cholesteron). Lexitin rất quan trọng để giữ cho lượng Cholesteron ở dạng hòa tan trong mật và giúp ngăn ngừa hiện tượng sỏi mật. Lexitin rất quan trọng trong việc giữ cho hệ thần kinh luôn khỏe mạnh, nó luôn có ở vỏ bọc dây thần kinh.
Các thành phần cơ bản của lexitin, cholin rất cần thiết gây tác động từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh khác cải thiện hệ thần kinh. Trong thí nghiệm tiến hành trên cơ thể thỏ người ta ghi nhận: Lecitin làm tăng huyết dịch và trợ tim rất đặc hiệu, giảm cholesteron trong máu, ngăn ngừa các bệnh lý về tim mạch giúp hạn chế rụng tóc. Theo một số nhà nghiên cứu trong thành phần của lexitin có nhóm chức inositol là nhân tố kích thích sinh trưởng và giải độc tố. Dựa vào tác dụng giải độc của lexitin, nhiều nhà điều trị đã từ lâu áp dụng chất này trong phác đồ điều trị cho những người bị gan nhiễm mỡ.
Hơn nữa lexitin có tác dụng tăng cường quá trình hấp thụ các chất béo, cân bằng omega. Nó có khả năng chống oxi hóa giúp ngăn chặn quá trình phân hủy chất béo [5]. Thành phần hoá học: Thân rễ Hà thủ ô chứa antranoid, trong đó có emodin, chrysophanol, rhein, physcion; protid, tinh bột, lipid, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin). Tanin… Trong tự nhiên, Hà thủ ô đỏ được trồng bằng cách giâm cành hoặc trồng bằng hạt.
Vấn đề gặp phải với phương pháp nhân giống truyền thống đối với cây Hà thủ ô đỏ là khả năng nảy mầm hạt lâu, tỷ lệ sống thấp còn phương pháp giâm cành tạo ra cây con có tuổi thọ ngắn. Và Chang Lin (2003) đã xác định các cây Hà thủ ô đỏ có nguồn gốc in vitro sẽ cho tỉ lệ các chất emodin và physcion cao hơn so với cây ngoài tự nhiên [15].1: Tỷ lệ emodin và physcion Hàm lượng Emodin Hàm lượng Physcion Sản phẩm Hà thủ ô đỏ (mg/g sấy khô) (mg/g sấy khô) Phần thân ngoài tự nhiên 0. 00 Phần rễ ngoài tự nhiên 0. 001 Phần chồi nhân giống in vitro 0.
044 Cây trong nhà kính sau in vitro 0. 064 Theo như bảng số liệu trên, nhân giống cây Hà thủ ô đỏ bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật rất hiệu quả và phù hợp.