Chương 1 ‘TONG QUAN VE TINH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TREN THE GIỚI VA VIET NAM LA. TREN THE GIỚI Tài nguyên đất trên toàn cầu có 13530 triệu ha. Hiện nay trên thể giới đất đang được canh tác chiếm khoảng 10,6% tổng diện tích đất và còn một tiém nang lớn hơn 14.7% đất nông nghiệp có thé đưa vào trồng trot, phần lớn tiếm nang đất này là ở Bắc, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu ĐạẾ Dương tức khoảng 1000 triệu ha đất có khả năng nông nghiệp, đa số là đất Oxisols và Vetisol.(23] 'Ở Châu A, mac dù chiếm 38% dan số thé giới nhưng chỉ có 20% đất nông, nghiệp toàn cầu, trong đó 77% đất canh tác. Đất đốc ở Châu A chiếm khoảng 35% tổng diện tích đất của các nước dan§'át triển (27).
Tiếm năng đất trồng trot nhờ nước trời nhìn chung là khá lớn, khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang trồng trot và có khoảng 100 triệu ha nằm trong vùng nhiệt đối ẩm của Đông ‘Nam A, phần lớn những diện tích này ( khoảng 40-60 triều ha) là đất đốc, chua nhiệt đổi, loại đất này trước đây, với dude rùng tự nhiên bao phủ đến nay do hoạt động của con người nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ.[24} Trên thế giới trải qua nhiều thế kỷ trong quá trình sản xuất, con người đã có. những phương thí s0dhing đất thay đổi phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Đứng, trước nhu cầu về lương thực của thế giới các nhà khoa học đã tìm tòi, nghiên cứu thir nghiệm một số mô hình sử dung đất trên phạm vi toàn thế giới và đã đạt được những kết quả khả quan. Nhiều công trình trên thế giới đã được xác nhân như dùng cây họ đậu, cây phân xanh trồng xen với cây trồng chính có tác dụng trong việc che phủ, chống được sự rửa trôi, bào mòn đất và ánh sáng trực xạ của mat trời đồng thời làm.
giảm sự mất mùa, tăng đạm của đất, cung cấp một lượng phân đáng kể cho cay trồng, có tác dung bảo vệ đất tốt (Coste 1935; Bertrand 1967; Prillenet 1990).|4] Bằng chứng lịch sử cho thấy việc phá huỷ rừng là do các cộng đồng người sống ở bén lễ xã hội và giới hạn địa lý gây ra, họ buộc phải thích ứng với hoàn cảnh sống ngật nghèo bằng cách phá huỷ môi trường tự nhiên dễ bị tổn thương và sau đó. họ lại chính là nạn nhân của tình trang lam dụng tài nguyên thiên nhiên 46. "Sự suy thoái đất không phải chỉ do phối hợp của các yếu tổ môi trường và sự buông thả trong chiến lược quản lý đất, nhưng đúng hơn là do phá vỡ các biện pháp kỹ thuật canh tác lâu bến được người din sử dung” (Redclift 1984; Blaike 1985). Sự thay đổi cđân số nông thôn để phù hợp với diện tích đất trồng trọt đã bắt đầu từ nữa thế kỹ trước và còn tiếp tục cho đến tận bay giờ.
Hien, sự phát triển các nhà máy thủy điện cũng dễ ding đẩy người dân ra khỏi miền đất của ho để đến định cư& những vùng đất cao hơn. Cũng tương tự như vậy sifting cường trồng các cây hàng năm với nhiều loài và giống mới đã làm thay đổi Ñuồn tài nguyên của các nhóm khác. Kết quả là, trong tất cả các trường hợp, đã đẩy nhiều người dân hơn nữa lên các vùng cao, và cuộc sống của họ phụ thuộc mạnh mé hơn vào đất rừng. Nguồn tài nguyên không ngừng bị suy giảm.
Các vì dụ có thể tìm thấy ở bất kỳ quốc gia nào ở Nam và Đông Nam châu A.{10} Người ta có thể chia đùa trình phát triển nông nghiệp của loài người thành ba giai đoạn (Cao Liêm, 1990).[14] © Giai đoạf ly Là giai đoạn làm nông nghiệp thủ công. Có thể xem thời gian này con người vữa chuyển từ hái lượm sang chăn nuôi, trồng trọt. Những công cụ sử die@i@he sin xuất nông nghiệp còn thô sơ đơn giản. Nó cách đây khoảng 14 đến \uighin năm (vào thời kỳ đổ đá giữa).
Thời kỳ này nhìn chung ao động đơn giản. Con người đầu tư vào sin xuất nông nghiệp chủ yếu ở dang lao động sống, cộng với những kinh nghiệm mà họ truyền tụng lại cho nhau. Su phát triển của nông nghiệp còn chưa rộng rãi, chỉ tập chung ở một số vùng xem là "cái nôi" của sự phát triển loài người; vùng Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Quốc. Theo Gorman (1969) nên nông nghỉ trồng trọt xuất hiện cách đây khoảng 16 đến 18 nghìn năm.
Có thể nông nghiệp đã xuất hiện ở Thái Lan vào khoảng 7000 đến 9000 năm trước công nguyên. Vang Tây A là nơi trồng lúa mì, đại mach và nuôi city, dé vào khoảng 6000 năm trước công nguyên. Vùng Đông Nam A là nơi đầu tiên trồng lúa nước, nuôi lợn, gà, vào khoảng 3000 nghìn năm trước công nguyên. Vang Trung Bắc Mỹ bat đầu trồng ngô vào khoảng 6000 năm trước công nguyên, bí đô vào khoảng 3000 năm trước công nguyên.
Cũng ở day lần đầu tiên người ta trồng lac, sắn, khoai tay (Grigg, 1974). «Giai đoạn 2: Là giai đoạn làm nông nghiệp với các vật tư, kỹ thuật cao, được gọi là giai đoạn cơ giới hoá nông: nghiệp. Trong giai đoạn này, con người đầu tư vào nhiều công cụ, kỹ thuật afiim tạo năng suất cao. Thực hiện 5 Co ki hoá, thủy lợi hoá, hoá học hod, điện khí hoá và sinh học hóa.
Do sự tác động 6 at, con người đã làmt Vay đổi tự nhiên một cách đáng kể. "Phần lớn người ta nghĩ đến khai thác tiềm Hằng của thiên nhiên, trong đó chủ yếu là thực vat, động vật và đất dai Sit dụng nhiều máy móc, con người đã dùng quá nhiều đất đốt, làm 6 nhiễm môi trường, đặc biệt là các nhiên liệu thuộc hoá thạch. Thuốc trừ sâu điệt cỏ. phân hóa học, thuốc kích thích đã Ñữ-dụng tmột cách quá nhiều, làm 6 nhiễm đến môi trường dat, nước không khí B6j chung là môi trường sống nổi riêng của con người Hàng loạt các cánh rừng tự Bhiên vùng nhiệt đi võ cing quí giá về nhiều mặt đã bị t thống tự nhiên bị phá vỡ và cũng biết bao nhiều các hệ phá huỷ.
Biết bao nhiếhệ thống mới xuất hiện, Vi những iy Gt, những thiên ti, bạn hén, bệnh dich, những biến đổi thst thường về thời tiế'` (Út léí, động đất. đã xuất hiện trong những năm quả. Cũng rất tự nhiên, khi con người đã phá vỡ những cân bằng vốn có của trai đất theo quy luật, những cân bing khác sẽ được thiết lập. Với sự xuất hiện những cân bằng mới, con người đã phải thích nghỉ đấn nếu họ còn có thể.
Tự nhiên vốn rất cân bằng và thực hiện rất đúng những quy luật của nó. Ai khong tôn trọng tự nhiên, sẽ phải nhận hậu quả. Những năm gần đây, nhiều phản ứng của tự nhiên đã cảnh tỉnh con người buộc họ phải có những phương sách, những chiến lược bảo vệ thiên nhiên. Có thể xem từ đó mà giai đoạn 3 ra đời.
+ ˆ Giai đoạn 3: Là giai đoạn nông lâm nghiệp một cách hệ thống. Có thể ni, sau khi khai thác thiên nhiên một cách qué mức, chỉ cốt lợi nhuận về mat kinh tế, thiên nhiên đã tr lời, đã phản ứng và làm cho con người gin như thức tỉnh hơn. Thế giới và sự vật luôn tồn tại như một hệ thống. Tác động vào khâu.
này, khâu khác sẽ thay đổi theo, kiểu như "dứt dây động rừng”. Chat hết rừng, nước không thấm xuống đất kịp, lũ lụt sẽ xẩy ra, mat đất sẽ nóng lên, lạnh di thất thường, bão dong sẽ dẫn tới. Sử dụng quá nhiều chất đốt hoá thạch, các chất hoá học sẽ dẫn tới ting zôn bị phá hu, hiệu ứng nhà kính xuất hiện, trái đất nóng lên, nước đá ở hai cực tan ra, mực nước biển sẽ ding cao, nhấế Chì những vũng đất ven biển. Một chuỗi những ảnh hưởng day chuyển mang dy tỉnh hệ thống xuất hiện đài vô tận, và hậu quả của nó sẽ khôn lường.
Bởi vậy những năm gần đây, con nEời đã biết sử dung đất bền vững, hợp lý Người ta đã biết đánh giá hiệu quả sử dung đất dai một cách toàn điện, thông qua hiệu quả tổng hợp. Một mô hình sử dung đái có lợi nhuận kinh tế cao, chưa hẳn đã được đánh giá cao mà còn phải xem xét các mặt xã hội, môi trường sinh thái, tính đa dạng, bên vững của nó. Ban thân người sử dựâg đất đã bat đấu có những nhận thức tốt vẻ hệ thống. Trong từng quốc gia có nhữtg tổ chúc giúp sử dung đất hợp lý Trong thế gii li có những tổ chức liên kế các quốc gia và các tổ chức của các quốc gia vào chương trình chung toàn cầu.
Từ đó, sử dụng đất mang tính hệ thống thiết lập không chỉ ở từng địa phương, áe eẻ (bế giới. Các nước phát triển có trách nhiệm giúp đỡ các nước kém phát triểXÊyn dựng kink tế, sử dung đất hợp lý, bền vũng, bởi một lẽ tất cả chúng ta đều sống trong Ngôi nhà sinh thái "quả đi Sự suy thoái của đất đai do sử dụng không hợp lý của con người là một trong những nguy cơ đe doa cuộc sống lâu bến của triệu triệu. sinh mệnh trên trái đất chúng ta ngày nay. Đặc biệt, sự thoái hoá của vùng.
đất đốc ở Châu á và Đông Nam á được coi như là một kẻ thù đối vớisự phát triển của nhiều nước trong vùng này của. Philippin là một trong những nước thuộc ving Đông Nam á. Người nông dan và những người phổ cập sớm nhận ra điều đó, Được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức “quốc tế, hệ thống sử dụng đất bền vững được khởi xướng, thực hiện, đào tạo và phổ cập ở đây từ những năm 1970. Một trong những phương thức sử dụng đất có hiệu quả cao lâu bền trên đất đốc đó là mô hình SALT (Sloping Agricultural Land Technology) đã được trung tâm phát triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao Philippines tổng kết, hoàn thiện và phát triển.
Cho đến nay, sau gần 15 năm kể từ lúc bắt đầu chương trình này họ đã thử nghiệm và hoàn thiện được 4 mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc. Các mô hình đó không chỉ được ứng dụng và phát triển rộng rãi ở Philippin mà còn được các nhóm công tác quốc tế và khu vực ghỉ nhận và ứng dụng, đó là cá ïnô hình (7): ‘Mo hinh J. Kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất đốc (Sloping agricultural Land Technology), viết tit là SALT! M6 hình 2. Kinh tế nông súc Tết hop đơn giản (Simple agrolivestock technology), viết tắt là SALT2.
Kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp bên vững (Suitanable Agro- Forest Land Technology), viet tất là SALTS.