Tổng quan nghiên cứu

Sạt lở bờ sông là một trong những tai biến địa chất phổ biến, gây thiệt hại nghiêm trọng về nhà cửa, đất đai và ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn đê điều cũng như đời sống người dân ven sông. Tại khu vực đoạn từ K21+600 đến K26+500 đê Hữu Hồng, huyện Ba Vì, Hà Nội, hiện tượng mất ổn định bờ sông diễn ra phức tạp do sự tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Đoạn bờ sông dài gần 5 km này nằm ngay hạ lưu hợp lưu ba con sông Thao, Đà và Lô, có chế độ thủy văn phức tạp, chịu ảnh hưởng của các công trình thủy điện thượng nguồn, khai thác cát trái phép và các công trình chỉnh trị chưa đồng bộ. Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ nguyên nhân gây mất ổn định bờ sông tại khu vực này, từ đó đề xuất các giải pháp gia cố phù hợp nhằm bảo vệ bờ sông, đảm bảo an toàn cho các công trình dân sinh và đê điều. Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi địa bàn các xã Chu Minh, Đông Quang và Cam Thượng, huyện Ba Vì, với dữ liệu thu thập từ năm 2016 đến 2019. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc giảm thiểu thiệt hại do sạt lở, nâng cao hiệu quả quản lý hành lang thoát lũ và góp phần phát triển bền vững vùng ven sông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về cơ chế phá hủy bờ sông, bao gồm hai dạng chính: sạt lở do trọng lực và xói lở kết hợp trượt lở. Các mô hình phá hủy bờ sông phổ biến như trượt nông, trượt cung tròn, trượt phẳng, xói ngầm, xói hàm ếch và xói chân bờ được áp dụng để phân tích hiện tượng sạt lở. Lý thuyết về áp lực nước lỗ rỗng, sức hút dính của đất và ảnh hưởng của dao động mực nước sông, mực nước ngầm được sử dụng để đánh giá sự thay đổi tính chất cơ lý đất và hệ số an toàn bờ sông (FOS). Mô hình số SEEP/W và SLOPE/W trong phần mềm GEOSLOPE được dùng để mô phỏng quá trình thấm, áp lực thủy lực và tính toán ổn định mái dốc bờ sông. Ngoài ra, các công thức thực nghiệm của Van Genuchten và Vanapalli được áp dụng để xác định tính chất đất không bão hòa, hệ số thấm và sức chống cắt đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu khảo sát thực địa, đo vẽ địa hình bờ sông, khoan khảo sát địa chất công trình, thí nghiệm xác định tính chất cơ lý đất tại phòng thí nghiệm và hiện trường, cùng số liệu thủy văn từ Trạm Thủy văn Sơn Tây. Cỡ mẫu gồm 3 hố khoan sâu từ 10 đến 15 m, 18 vị trí lấy mẫu đất nguyên dạng và không nguyên dạng, 10 mặt cắt ngang sông đo bằng máy ADCP. Phương pháp chọn mẫu theo phương pháp khoan xoay không dùng nước bơm rửa để bảo đảm tính nguyên dạng mẫu. Phân tích dữ liệu sử dụng mô hình số SEEP/W để mô phỏng áp lực nước lỗ rỗng và hệ số thấm trong điều kiện đất không bão hòa, kết hợp với SLOPE/W để tính toán hệ số an toàn bờ sông dưới các kịch bản dao động mực nước và tác động mưa. Timeline nghiên cứu kéo dài từ 2016 đến 2019, gồm các đợt khảo sát hiện trường, đo vẽ, khoan lấy mẫu, thí nghiệm và mô phỏng số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Hiện trạng sạt lở nghiêm trọng: Đoạn bờ sông từ K21+600 đến K26+500 có nhiều điểm sạt lở với chiều dài cung sạt lên đến hàng trăm mét, đặc biệt tại các xã Chu Minh, Đông Quang và Cam Thượng. Ví dụ, tại K22+100 – K22+300, sạt lở đã phá hủy đường giao thông dài hơn 100 m, ảnh hưởng trực tiếp đến nhà dân. Tại K24+000 – K24+500, bờ sông cao 7-8 m bị sạt lở sâu sát nhà dân, có khe nứt dài vài trăm mét do khai thác cát trái phép.

  2. Ảnh hưởng của dòng chảy và mưa: Dòng chảy áp sát bờ sông, đặc biệt trong mùa mưa lũ, kết hợp với mưa dài ngày làm bão hòa đất bờ, giảm sức chống cắt và gây mất ổn định trọng lực. Mực nước sông dâng cao làm tăng áp lực thủy tĩnh, thay đổi sức hút dính đất, ảnh hưởng đến hệ số an toàn bờ sông. Mô hình số cho thấy khi mực nước sông tăng, FOS tăng do áp lực thủy tĩnh, nhưng khi mực nước hạ, FOS giảm do mất áp lực thủy tĩnh.

  3. Tác động của khai thác cát và công trình ven bờ: Hoạt động khai thác cát trái phép làm thay đổi lòng dẫn, tăng xói lở chân bờ. Các công trình xây dựng dân dụng không theo quy hoạch làm thu hẹp hành lang thoát lũ, làm gia tăng nguy cơ sạt lở. Tại khu vực nhà ông Nguyễn Ngọc Kính (K24+300), khe nứt dài xuyên qua nhà, nguy cơ sạt lở cao.

  4. Đặc điểm địa chất và địa hình: Địa tầng chủ yếu là trầm tích Đệ tứ với đất sét pha, cát pha, có hệ số thấm từ khoảng 10^-5 đến 10^-6 cm/s. Địa hình bờ sông có độ dốc lớn, cao trình bờ từ 5 đến 14 m, bãi bồi hẹp hoặc rộng tùy đoạn. Các đoạn có bãi bồi rộng ít bị xói lở hơn, nhưng vẫn có hiện tượng sụt trượt do mưa và dao động mực nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân mất ổn định bờ sông là sự phối hợp giữa yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Sự dao động mực nước sông và nước ngầm làm thay đổi áp lực nước lỗ rỗng, sức hút dính và tính chất cơ lý đất, dẫn đến giảm hệ số an toàn bờ sông. Dòng chảy mạnh gây xói chân bờ, tạo hàm ếch làm bờ sông mất cân bằng trọng lực, dẫn đến sạt trượt. Hoạt động khai thác cát làm thay đổi lòng dẫn, tăng tốc độ dòng chảy và xói lở. So sánh với các nghiên cứu quốc tế, cơ chế phá hủy bờ sông tại khu vực nghiên cứu tương đồng với các mô hình trượt kết hợp xói lở chân bờ. Kết quả mô hình số phù hợp với quan sát thực tế, cho phép dự báo nguy cơ sạt lở và đánh giá hiệu quả các giải pháp gia cố. Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ mối quan hệ giữa mực nước sông và hệ số an toàn, bảng thống kê các điểm sạt lở và bản đồ phân bố khe nứt.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Gia cố chân bờ bằng kè mềm và cứng: Thi công kè đá hộc kết hợp rọ đá tại các đoạn xói lở nghiêm trọng nhằm giảm xói chân bờ, tăng cường ổn định bờ sông. Mục tiêu giảm tốc độ xói lở xuống dưới 10% hiện trạng trong vòng 2 năm. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Đê điều huyện Ba Vì phối hợp với đơn vị thi công.

  2. Quản lý khai thác cát: Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hoạt động khai thác cát trái phép để hạn chế thay đổi lòng dẫn và xói lở bờ sông. Mục tiêu giảm 80% hoạt động khai thác trái phép trong 1 năm. Chủ thể: UBND huyện Ba Vì, lực lượng chức năng.

  3. Quy hoạch và kiểm soát xây dựng ven bờ: Ban hành quy định nghiêm ngặt về xây dựng trong hành lang thoát lũ, di dời các công trình không phù hợp, đảm bảo hành lang an toàn tối thiểu 50 m. Mục tiêu hoàn thành trong 3 năm. Chủ thể: Sở Xây dựng Hà Nội, UBND huyện Ba Vì.

  4. Giám sát và cảnh báo sạt lở: Thiết lập hệ thống quan trắc mực nước, áp lực nước lỗ rỗng và khe nứt bờ sông để cảnh báo sớm nguy cơ sạt lở, phục vụ công tác phòng chống thiên tai. Mục tiêu vận hành liên tục, cập nhật dữ liệu hàng tháng. Chủ thể: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Hà Nội, Ban Quản lý Đê điều.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý đê điều và phòng chống thiên tai: Sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng kế hoạch bảo vệ bờ sông, quản lý hành lang thoát lũ và ứng phó kịp thời với sạt lở.

  2. Các nhà quy hoạch và xây dựng: Áp dụng các giải pháp gia cố bờ sông và quy hoạch xây dựng ven sông phù hợp, giảm thiểu rủi ro do sạt lở.

  3. Các nhà nghiên cứu địa chất môi trường và thủy văn: Tham khảo phương pháp mô hình số và phân tích cơ chế sạt lở để phát triển nghiên cứu sâu hơn về ổn định bờ sông.

  4. Cộng đồng dân cư ven sông: Nâng cao nhận thức về nguy cơ sạt lở, tham gia quản lý và bảo vệ bờ sông, đảm bảo an toàn tài sản và tính mạng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguyên nhân chính gây mất ổn định bờ sông là gì?
    Nguyên nhân chủ yếu là sự phối hợp giữa dao động mực nước sông, áp lực nước lỗ rỗng làm thay đổi tính chất đất, kết hợp với xói chân bờ do dòng chảy mạnh và tác động của khai thác cát trái phép.

  2. Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá ổn định bờ sông?
    Nghiên cứu sử dụng mô hình số SEEP/W để mô phỏng áp lực nước và SLOPE/W để tính toán hệ số an toàn bờ sông, dựa trên dữ liệu khảo sát thực địa và thí nghiệm cơ lý đất.

  3. Giải pháp gia cố bờ sông nào hiệu quả nhất?
    Gia cố chân bờ bằng kè đá hộc kết hợp rọ đá được đánh giá là giải pháp hiệu quả, giảm xói lở chân bờ và tăng cường ổn định bờ sông trong điều kiện dòng chảy phức tạp.

  4. Tác động của khai thác cát trái phép đến bờ sông như thế nào?
    Khai thác cát làm thay đổi lòng dẫn, tăng tốc độ dòng chảy và xói lở chân bờ, gây mất ổn định bờ sông và làm gia tăng nguy cơ sạt lở nghiêm trọng.

  5. Làm thế nào để cộng đồng dân cư ven sông tham gia bảo vệ bờ sông?
    Cộng đồng cần được nâng cao nhận thức về nguy cơ sạt lở, phối hợp với chính quyền trong giám sát khai thác cát, không xây dựng trái phép và tham gia các hoạt động bảo vệ bờ sông.

Kết luận

  • Đoạn bờ sông từ K21+600 đến K26+500 đê Hữu Hồng, Ba Vì, Hà Nội có hiện trạng sạt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư và an toàn đê điều.
  • Nguyên nhân mất ổn định bờ sông là sự phối hợp của yếu tố thủy văn, địa chất và tác động của con người như khai thác cát và xây dựng không quy hoạch.
  • Mô hình số SEEP/W và SLOPE/W cho phép đánh giá chính xác ảnh hưởng của dao động mực nước và mưa đến hệ số an toàn bờ sông.
  • Giải pháp gia cố chân bờ bằng kè đá hộc, quản lý khai thác cát và kiểm soát xây dựng ven bờ được đề xuất nhằm giảm thiểu nguy cơ sạt lở.
  • Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý, nhà quy hoạch và cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ bờ sông, góp phần phát triển bền vững vùng ven sông.

Tiếp theo, cần triển khai thực hiện các giải pháp đề xuất, đồng thời thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo sạt lở để nâng cao hiệu quả phòng chống tai biến địa chất. Đề nghị các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý và bảo vệ bờ sông khu vực nghiên cứu.