Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách tiền tệ (CSTT) giữ vị trí then chốt trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia, hướng tới việc điều tiết các điều kiện tiền tệ nhằm duy trì ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ phụ thuộc trực tiếp vào việc lựa chọn và vận hành các công cụ của ngân hàng trung ương (NHTW). Nhằm chuyển đổi cơ chế điều hành từ các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp theo cơ chế thị trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chính thức khai trương và đưa nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operations - OMO) vào vận hành từ ngày 12/7/2000.

Sau hơn 11 năm triển khai, OMO đã trở thành kênh quan trọng giúp NHNN điều tiết vốn khả dụng của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) và kiểm soát lượng tiền cung ứng. Tuy nhiên, quá trình vận hành thực tế cũng bộc lộ một số hạn chế: số lượng TCTD tham gia còn ít, doanh số giao dịch chưa lớn, chủng loại hàng hóa giao dịch chưa thực sự đa dạng, quy trình xử lý thông tin và khung khổ pháp lý cần tiếp tục được hoàn thiện. Trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với biến động vĩ mô phức tạp giai đoạn 2007–2011 (tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu và áp lực lạm phát trong nước), việc nghiên cứu sâu về hoạt động của OMO là yêu cầu cấp thiết.

Đề tài "Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011" do sinh viên Tán Anh Kha thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ Hữu Tiến tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng (năm 2012) xác định các nội dung nghiên cứu cụ thể sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
    1. Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ, công cụ chính sách tiền tệ và nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng trung ương.
    2. Phân tích, đánh giá hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2007 đến nay (thời điểm năm 2011–2012).
    3. Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động OMO tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và công cụ chính sách tiền tệ

Đề án hệ thống hóa nền tảng lý luận về chính sách tiền tệ theo hai cấp độ:

  • Theo nghĩa rộng: Chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế nhằm phân bổ hiệu quả các nguồn lực, thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế và ổn định giá trị đồng nội tệ.
  • Theo nghĩa hẹp: Chính sách đảm bảo khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát.

Hệ thống mục tiêu CSTT bao gồm:

  • Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng): Ổn định giá trị tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm.
  • Mục tiêu điều hành: Gồm mục tiêu trung gian (tổng lượng tiền cung ứng $M$, lãi suất) và mục tiêu hoạt động (lãi suất liên ngân hàng, dự trữ ngân hàng).

Các công cụ thực hiện CSTT được phân tích gồm: Dự trữ bắt buộc (DTBB), chính sách chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất, hạn mức tín dụng và tỷ giá hối đoái. Trong đó, OMO được xác định là công cụ có tính chủ động cao nhất, bắt nguồn từ việc Ngân hàng Anh áp dụng lần đầu tiên vào năm 1914. Cơ chế tác động của OMO được xem xét trên hai phương diện:

  • Về mặt lượng (tác động vào dự trữ ngân hàng): Khi NHTW bán giấy tờ có giá (GTCG), tiền gửi của NHTM tại NHTW hoặc tiền gửi của khách hàng tại NHTM giảm đi, làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng, giảm khả năng cấp tín dụng, dẫn đến giảm lượng cung tiền ($MS$). Ngược lại, khi NHTW mua GTCG, dự trữ của NHTM tăng lên, kéo theo sự mở rộng của tín dụng và cung tiền.
  • Về mặt giá (tác động qua lãi suất): Tác động qua hai kênh: (1) Thay đổi dự trữ làm thay đổi cung cầu vốn trên thị trường liên ngân hàng, thay đổi lãi suất ngắn hạn và truyền dẫn sang lãi suất trung/dài hạn; (2) Hoạt động mua bán làm biến động cung - cầu và giá cả của chính GTCG đó, làm dịch chuyển tỷ suất sinh lời và điều chỉnh mặt bằng lãi suất thị trường, từ đó tác động đến tổng cầu ($AD$) và sản lượng.
[NHTW bán GTCG] -> [Dự trữ NHTM giảm] -> [Dự trữ mở rộng cho vay giảm] -> [Khối lượng tín dụng giảm] -> [MS giảm]

Cơ sở pháp lý

Nghiên cứu tổng hợp các văn bản pháp luật làm nền tảng cho sự hình thành và vận hành OMO tại Việt Nam:

  • Điều 21 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (quy định thẩm quyền và phạm vi mua bán GTCG ngắn hạn).
  • Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN ngày 09/3/2000 của Thống đốc NHNN ban hành Quy chế hoạt động nghiệp vụ thị trường mở (Quy chế 85), được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 1439/2001/QĐ-NHNN, Quyết định số 877/2002/QĐ-NHNN, Quyết định số 1085/2003/QĐ-NHNN, Công văn số 1511/NHNN-TD năm 2004, Quyết định số 1909/QĐ-NHNN năm 2005, và thay thế toàn diện bằng Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007.
  • Quyết định số 37/2000/QĐ-NHNN ngày 24/01/2000 về Quy chế quản lý vốn khả dụng.
  • Các văn bản về phát hành hàng hóa và thị trường thứ cấp: Quyết định số 362/1999/QĐ-NHNN1 (phát hành tín phiếu NHNN); Nghị định 72/CP và Quyết định 01/2000/QĐ-TTg (phát hành trái phiếu Chính phủ); Pháp lệnh thương phiếu 1999; Quyết định 136 QĐ/NH2 (thị trường nội tệ liên ngân hàng); Quyết định 101/1999/QĐ-NHNN13 (thị trường ngoại tệ liên ngân hàng); Quyết định 356/1999/QĐ-NHNN14 (nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh đối chiếu.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình và tài liệu nghiên cứu chuyên ngành ngân hàng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương

Chương 1 tập trung phân tích lý luận về vị trí của OMO trong CSTT, ưu nhược điểm, cấu trúc thành viên, danh mục hàng hóa, kỹ thuật giao dịch và các nhân tố ảnh hưởng.

  • Ưu và nhược điểm của OMO:
    • Ưu điểm: Do NHTW hoàn toàn chủ động khởi xướng và kiểm soát quy mô; có độ linh hoạt và chính xác cao; dễ dàng đảo ngược trạng thái khi có sai lệch; tốc độ triển khai nhanh, không gặp độ trễ hành chính lớn như các công cụ khác.
    • Nhược điểm: Tác động đến cơ số tiền tệ có thể bị triệt tiêu bởi các dòng tiền ngược chiều (mất cân đối cán cân thanh toán, biến động tiền gửi ngân sách); việc mở rộng/thu hẹp tín dụng thực tế còn phụ thuộc vào hành vi của NHTM và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
  • Thành viên tham gia: Gồm NHTW (đóng vai trò tổ chức, can thiệp và điều tiết) và các đối tác (NHTM, tổ chức tài chính phi ngân hàng, nhà giao dịch sơ cấp - Primary Dealers).
  • Hàng hóa của OMO: Tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và chứng chỉ tiền gửi (CD).
  • Phương thức giao dịch và đấu thầu:
    • Giao dịch: Giao dịch không hoàn lại (mua/bán hẳn) và giao dịch mua bán có kỳ hạn (hợp đồng mua lại - Repos và Repos đảo ngược).
    • Đấu thầu khối lượng: NHTW thông báo trước mức lãi suất, các thành viên đăng ký khối lượng. Tỷ lệ phân bổ thầu $k$ và khối lượng trúng thầu $W_i$ được tính: $$k = \frac{A}{\sum_{i=1}^{n} b_i}$$ $$W_i = k \times b_i$$ (Trong đó $A$ là khối lượng NHTW chào, $b_i$ là khối lượng đặt thầu của thành viên $i$).
    • Đấu thầu lãi suất: Thành viên tự đăng ký khối lượng và mức lãi suất mong muốn. Việc xét thầu theo phương pháp lãi suất thống nhất (kiểu Hà Lan) hoặc lãi suất riêng lẻ (kiểu Mỹ).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đề án nghiên cứu mô hình OMO của Ngân hàng Nhật Bản (BOJ), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Thái Lan (BOT) và Ngân hàng Quốc gia Ba Lan nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng sử dụng nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2007 đến năm 2011

Chương này đánh giá toàn diện quá trình thiết lập khung pháp lý, tổ chức bộ máy và diễn biến điều hành OMO tại Việt Nam qua các giai đoạn.

  • Bộ máy tổ chức điều hành OMO tại NHNN:
    • Ban điều hành OMO: Trưởng ban là 01 Phó Thống đốc NHNN; Phó Trưởng ban thường trực là Vụ trưởng Vụ CSTT; 01 Phó Trưởng ban là Giám đốc Sở Giao dịch; các Ủy viên gồm đại diện lãnh đạo Vụ Tín dụng, Vụ Quản lý Ngoại hối và Sở Giao dịch; thư ký là chuyên viên Vụ CSTT và Sở Giao dịch.
    • Các đơn vị phối hợp: Bộ phận quản lý vốn khả dụng (Vụ CSTT), Phòng Nghiệp vụ thị trường tiền tệ (Sở Giao dịch), Phòng Thị trường tiền tệ và bảo lãnh (Vụ Tín dụng), Cục Công nghệ tin học ngân hàng.
  • Phát triển thành viên và hàng hóa tại Việt Nam: Số lượng thành viên mở rộng qua các năm (từ 21 thành viên năm 2000 lên 30 thành viên vào cuối năm 2005). Danh mục GTCG ban đầu chỉ gồm tín phiếu ngắn hạn, sau đó được mở rộng thêm trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư, công trái, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu Quỹ Hỗ trợ phát triển.
  • Hoạt động điều hành OMO giai đoạn 2007–2011:
    • Giai đoạn 2007–2008: NHNN linh hoạt chuyển đổi CSTT từ "thắt chặt" sang "nới lỏng" để ứng phó và hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu.
    • Giai đoạn 2010–2011: Chuyển mạnh sang chính sách thắt chặt và thận trọng nhằm kiềm chế lạm phát theo tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ (khống chế tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15–16%).
    • Diễn biến 6 tháng đầu năm 2011:
      • Quý 1/2011: NHNN bơm ròng đạt 82.xxx tỷ đồng.
      • Tháng 4/2011: Cung ứng 519.695,7 tỷ đồng, hút về 453.xxx tỷ đồng, mức bơm ròng đạt 66.xxx tỷ đồng. Lãi suất OMO được điều chỉnh tăng từ 12%/năm lên 13%/năm trong 2 tuần đầu tháng 4/2011. Nhu cầu vốn của các TCTD rất cao, tỷ lệ đăng ký/chào thầu đạt mức gần 230%.
      • Tháng 5/2011: NHNN chuyển sang hút ròng khoảng 71.xxx tỷ đồng. Hoạt động hút ròng này nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát kết hợp trung hòa lượng tiền tệ đưa ra lưu thông khi NHNN mua trên 2 tỷ USD bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước (riêng giai đoạn cuối tháng 4 - đầu tháng 5/2011 đã mua vào 1 tỷ USD). NHNN duy trì hút ròng 9 tuần liên tục từ 4/5/2011 đến hết 1/7/2011.

Kết quả và đóng góp

Kết quả thống kê về thành viên tham gia OMO

Sự tham gia của các tổ chức tín dụng trên thị trường mở phản ánh qua bảng tổng hợp từ văn bản:

Loại hình tổ chức thành viên Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
NHTM Nhà nước 4 4 4 5 5 5
NHTM Cổ phần 9 10 10 11 13 14
Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 4 4 5 5 6 7
Ngân hàng Liên doanh 1 1 1 1 1 1
TCTD phi ngân hàng 1 1 1 1 1 1
Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương 1 1 1 1 1 1
Tổng cộng 21 22 23 25 28 30

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Đánh giá kết quả và đóng góp của đề án

  • Kết quả thực tiễn đạt được:
    • Đề án chứng minh OMO đã trở thành công cụ điều tiết vốn khả dụng chủ lực và linh hoạt của NHNN, giúp kiểm soát thanh khoản cho các TCTD mà không gây xáo trộn đột ngột trên thị trường tiền tệ.
    • Phân tích rõ nét vai trò kép của OMO trong năm 2011: vừa thực thi mục tiêu kiềm chế lạm phát của Nghị quyết 11, vừa thực hiện chức năng trung hòa tiền tệ (sterilization) khi NHNN mua ngoại tệ củng cố dự trữ quốc gia.
  • Các hạn chế được chỉ ra: Số lượng thành viên tham gia thị trường thực tế còn khiêm tốn so với quy mô toàn hệ thống ngân hàng; thị trường thứ cấp cho các GTCG chưa phát triển mạnh; tính đa dạng của hàng hóa OMO vẫn bị hạn chế chủ yếu trong các chứng khoán nợ công; công tác dự báo vốn khả dụng trong một số thời điểm còn gặp khó khăn do tính biến động của dòng vốn.
  • Đóng góp của đề tài: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, cơ chế pháp lý từ khi OMO hình thành (năm 2000) đến giai đoạn điều hành biến động 2007–2011, cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về cơ chế đấu thầu, lãi suất và can thiệp tiền tệ tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài là đề án môn học bậc đại học, phạm vi dữ liệu định lượng chi tiết tập trung sâu vào giai đoạn 2000–2005 (về thành viên) và 6 tháng đầu năm 2011 (về diễn biến giao dịch bơm/hút ròng). Do giới hạn thời gian và tư liệu tiếp cận, một số chuỗi số liệu xuyên suốt các năm 2008–2010 chưa được trình bày đầy đủ trong văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động định lượng của OMO đối với lãi suất thị trường liên ngân hàng và cung tiền $M_2$ qua mô hình kinh tế lượng; nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa OMO và công cụ tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc trong điều kiện tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn sau năm 2012.

Giá trị tham khảo

Đề án môn học là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế học đang nghiên cứu về nghiệp vụ ngân hàng trung ương và điều hành chính sách tiền tệ.
  • Người nghiên cứu lịch sử phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam, cung cấp chi tiết về tiến trình hoàn thiện khung pháp lý OMO (từ Quy chế 85/2000 đến Quy chế 01/2007).
  • Bạn đọc cần tra cứu về cơ chế đấu thầu (công thức phân bổ thầu khối lượng, đấu thầu lãi suất kiểu Mỹ/Hà Lan) và cơ cấu tổ chức của Ban điều hành OMO tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu tổ chức của Ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN gồm những thành phần nào?

Theo quy định, Ban điều hành OMO do một Phó Thống đốc làm Trưởng ban; Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ làm Phó Trưởng ban thường trực; Giám đốc Sở Giao dịch làm Phó Trưởng ban. Các Ủy viên gồm đại diện lãnh đạo Vụ Tín dụng, Vụ Quản lý Ngoại hối và Sở Giao dịch. Bộ phận thư ký gồm chuyên viên của Vụ Chính sách tiền tệ và Sở Giao dịch.

2. Sự khác biệt giữa phương thức đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất trên thị trường mở là gì?

  • Trong đấu thầu khối lượng, NHNN ấn định và công bố trước mức lãi suất; các thành viên đăng ký khối lượng GTCG cần giao dịch. Nếu tổng khối lượng đặt thầu vượt quá khối lượng chào của NHNN, việc phân bổ sẽ thực hiện theo tỷ lệ thuận với khối lượng đăng ký của từng thành viên.
  • Trong đấu thầu lãi suất, các thành viên tự nộp đơn đăng ký gồm cả khối lượng và mức lãi suất mong muốn. NHNN xét thầu theo thứ tự ưu tiên lãi suất (từ cao xuống thấp khi NHNN mua, từ thấp lên cao khi NHNN bán) và áp dụng tính giá theo phương pháp lãi suất thống nhất (Hà Lan) hoặc lãi suất riêng lẻ (Mỹ).

3. Tại sao trong tháng 5 và tháng 6 năm 2011, NHNN lại thực hiện hút ròng liên tiếp 9 tuần trên thị trường mở?

NHNN thực hiện hút ròng liên tục 9 tuần (từ ngày 4/5 đến hết 1/7/2011) nhằm phục vụ mục tiêu kép: (1) Thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, thận trọng để kiềm chế lạm phát theo Nghị quyết 11 của Chính phủ; (2) Trung hòa một lượng tiền lớn đã bơm ra lưu thông khi NHNN mua trên 2 tỷ USD để bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia (trong đó có 1 tỷ USD được mua vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2011).

4. Các loại giấy tờ có giá nào được phép giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam theo các quy định trong đề tài?

Danh mục GTCG gồm có: Tín phiếu Kho bạc, Tín phiếu NHNN, Trái phiếu Kho bạc, Trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, Công trái, Trái phiếu công trình trung ương, Trái phiếu chính quyền địa phương và Trái phiếu Quỹ Hỗ trợ phát triển. Tất cả GTCG phải được phát hành bằng đồng Việt Nam và đăng ký lưu ký tại NHNN theo quy định.

Kết luận

Đề án "Nghiên cứu nghiệp vụ thị trường mở của NHNN Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011" của tác giả Tán Anh Kha đã làm rõ cơ sở lý luận, cơ chế tác động và khung khổ pháp lý của OMO trong hệ thống công cụ chính sách tiền tệ. Thông qua phân tích thực trạng tổ chức bộ máy, phát triển thành viên và diễn biến điều hành linh hoạt (đặc biệt là giai đoạn kiềm chế lạm phát và trung hòa ngoại hối năm 2011), nghiên cứu khẳng định vai trò trụ cột của OMO trong kiểm soát vốn khả dụng. Đề tài cung cấp những đánh giá khách quan về thành tựu và tồn tại, tạo cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện thị trường mở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế.