phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 02 chƣơng. Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2. Giá trị nghệ thuật của chạm khắc đình Liên Hiệp ứng dụng vào giảng dạy bài tập Nghiên cứu vốn cổ dân tộc. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Vốn cổ Hiện nay khái niệm Vốn cổ vẫn chƣa có một khái niệm chính xác nào đƣợc đƣa ra. Vốn cổ đƣợc hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là những giá trị văn hóa (vật chất và tinh thần) của lịch sử để lại. Theo Tập Đề cƣơng bài giảng nghiên cứu vốn cổ dân tộc (tài liệu dùng cho sinh viên Đại học Sƣ phạm Mỹ thuật) thì Vốn cổ đƣợc quan niệm rằng: “Di sản quý báu đó đƣợc hun đúc, trải nghiệm rõ nét trong nhiều thời kỳ khác nhau bộc lộ qua cách nhìn, cách thể hiện trên các sản phẩm văn hóa vật thể, phi vật thể.5] “Vốn cổ là những gì còn lƣu giữ lại từ các thế kỷ trƣớc có tầm ảnh hƣởng lớn với con ngƣời thời hiện đại.
Có thể coi đó là những chuẩn mực không đơn thuần mang tính xƣa cũ mà là những gì cần đƣợc bảo tồn, phát huy giá trị cho hậu duệ, chứa đựng những giá trị sâu sắc mang bản sắc dân tộc và thời đại.2] Vốn cổ - Di sản văn hóa Việt Nam mang nhiều giá trị về mặt vật chất và tinh thần, chúng là đại diện cho tinh thần của một cộng đồng từ mức độ làng xã cho đến một quốc gia, từ một thời kì ngắn cho đến lịch sử hình thành và phát triển của cả dân tộc. Với những giá trị to lớn của vốn cổ trong lịch sử nƣớc Việt Nam suốt dọc chiều dài từ hình thành cho đến giữ nƣớc và phát triển ngày, các giá trị ấy đã, đang và sẽ luôn đƣợc công nhận, tôn trọng và bảo tồn. Vốn cổ có thể đƣợc tồn lại dƣới hai dạng đó là vật thể và phi vật thể. Vốn cổ dù tồn tại ở dạng vật thể hay phi vật thể đi chăng nữa thì chúng vẫn luôn là một tài sản quý báu không chỉ của riêng một địa phƣơng có vốn cổ đó mà nó còn là của cả quốc gia, thậm chí là của nhân loại.
Nếu 8 chúng ta không gìn giữ một cách cẩn trọng, không giành tâm huyết, công sức và thời gian cho việc bảo tồn vốn cổ thì một khi chúng bị mất đi sẽ không lấy lại đƣợc, và các thế hệ tiếp theo sẽ không có cơ hội để nghiên cứu, tìm hiểu, quan sát chúng nhƣ một giá trị hiện hữu. Mỗi dân tộc lại có vốn cổ mang đậm tính truyền thống văn hóa của riêng dân tộc mình, đó là vốn cổ dân tộc. "Vốn cổ dân tộc là những công trình nghệ thuật của cha ông ta truyền từ đời này qua đời khác, trở thành nét truyền thống văn hóa mang bản sắc dân tộc. Vốn cổ dân tộc bao gồm nhiều thể loại, lĩnh vực khác nhau".1] Vốn cổ dân tộc nhƣ một bức tranh sống động miêu tả lại thời điểm ra đời của chúng và chân thực nhất, sống động nhất phải kể đến vốn cổ dân tộc trong nghệ thuật tạo hình.
Chúng đƣợc gắn liền với các công trình mang tính đồ sộ, hoành tráng nhƣ đình, chùa, miếu mạo, hay những dòng tranh dân gian vẫn còn đƣợc lƣu truyền đến ngày nay mặc dù chúng không còn nguyên vẹn. Ngày nay vốn cổ của dân tộc đã bị mất đi rất nhiều do nguyên nhân về thời gian, con ngƣời, do hậu quả của các cuộc chiến tranh và do cuộc sống hiện đại dần khiến con ngƣời bỏ đi những gì “xƣa cũ” đã phá hủy rất nhiều những vốn cổ có giá trị. Các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu đang rất nỗ lực để có thể bảo tồn một cách tốt nhất các giá trị của vốn cổ dân tộc, cũng nhƣ việc nâng cao nhận thức cho ngƣời dân về việc tôn trọng, bảo vệ, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của đất nƣớc. Rất cấp bách để chúng ta có thể bảo tồn những gì còn lƣu giữ đƣợc đến ngày nay, giữ gìn vốn cổ cũng nhƣ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Đây là một công việc rất khó đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội để lƣu giữ vốn cổ cho con cháu đời sau. Đình làng Trong cuộc sống hàng ngày của ngƣời Việt Nam thƣờng hay sử dụng từ “cái Đình” khi nhắc đến một việc gì to, hoành tráng, quan trọng nhƣ “To nhƣ cái đình”, “ việc tày đình”… Đình làng cứ nhƣ thế đi dần và ăn sâu vào tâm thức của ngƣời dân làng xã. Đình trở lên quan trọng, thân thiết đƣợc ngƣời dân nhắc đến trong những câu ca dao, tục ngữ đầy yêu thƣơng, tình cảm nhƣ: “Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngòi thƣơng mình bấy nhiêu”; “Hôm qua tát nƣớc đầu đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”… Đình làng đƣợc coi là một biểu tƣợng mang tính cộng đồng, tại đây diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của làng xã thời bấy giờ. Đình là nơi thờ Thành hoàng làng, là nơi diễn ra các lễ hội, nơi bàn bạc, giải quyết việc làng.
Đình còn đƣợc dùng làm chỗ đón tiếp các quan lại của triều đình, là nơi nghỉ chân của vua. Hiện nay, không phải làng nào cũng còn gìn giữ đƣợc đình làng còn nguyên dáng vẻ ban đầu, tuy nhiên hình ảnh ngôi đình đã ăn sâu trong tiềm thức mỗi ngƣời Việt đó là sự hoành tráng của ngôi đình với mái đình xòe rộng và thấp đƣợc đặt trên những cột đình đồ sộ, và nếu chỉ có thế thì chúng ta sẽ có cảm giác nặng nề và tối. Tuy nhiên cảm giác đó đã không còn do mái đình đƣợc thiết kê với những những đầu đao cong vút lên tạo sự thanh thoát, bay bổng và ánh sáng tự nhiên hắt vào nhờ lối kiến trúc mở độc đáo của đình làng. Đình còn đƣợc coi là một kiến trúc đặc biệt, nó đƣợc gắn với các chức năng chính: tôn giáo, hành chính.
Nhƣ vậy Đình làng vừa là một biểu tƣợng, lại vừa là một kiến trúc văn hóa độc đáo mang tính cộng đồng cao. Đình làng đƣợc khoác lên mình một giá trị lịch sử, giá trị tinh thần to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống 10 mỗi ngƣời dân ở làng xã. Đối với lịch sử, chúng còn là một cuốn sử ghi lại cuộc sống của ngƣời dân thời bấy giờ một cách chân thực nhất, bằng những nhát đục, chạm lên các cấu kiện bên trong ngôi đình, vừa mang tính chất trang trí vừa lƣu giữ lại cho đời sau một cách chân thực nhất về tƣ tƣởng, cuộc sống thƣờng ngày của ngƣời dân ở mỗi làng xã. Ở đó những ngƣời thợ đã sử dụng phƣơng pháp chạm khắc để lƣu lại những hoạt động diễn ra hàng ngày trong đời sống sinh hoạt của ngƣời dân một cách bình dị nhất.
Chạm khắc Chạm Khắc theo Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông: “Chạm khắc là vạch ra những đƣờng nét, hình hài, làm trũng sâu xuống từ một bề mặt cứng nhƣ gỗ, kim loại, đá. bằng dụng cụ nhọn sắc hoặc bằng phƣơng pháp ăn mòn hóa học.37] Chính điều này đã tạo ra những hiệu quả nghệ thuật không ngờ. Mỗi nhát đục lại có độ nông sâu, to nhỏ khác nhau, độ mạnh yếu của tay ngƣời thợ đục chạm cũng không đồng đều, từng phản ứng hóa học luôn cho ra kêt quả mà ngƣời nghệ sĩ khó có thể biết chính xác đƣợc. Vì thế đã tạo nên vẻ đẹp nhƣ ngẫu hứng của các tác phẩm đẹp.
Ngày nay các chất liệu để chạm khắc đã phong phú hơn rất nhiều, các nghệ sĩ, có thể thoải mái thể hiện tác phẩm của mình trên gỗ, đá, thạch cao, kẽm, kim loại… với sự hỗ trợ các dụng cụ khắc sắc nhọn. Một điểm đặc biệt trong khi thực hiện các loại tranh khắc đó là hình đƣợc khắc trên tấm ván hay chất liệu khác thì cũng cần khắc ngƣợc để khi in ra mới có tranh xuôi. Nhƣng với chạm khắc đình làng, các nghệ nhân chạm khắc trực tiếp lên trên các cấu kiện gỗ chứ không phải loại tranh in ra, nên không có quá trình này. Không chỉ có họa sĩ mới sử dụng chạm khắc mà nhất là các nhà điêu khắc, họ khắc các tác phẩm của mình vào nhiều chất liệu (gỗ, đá.) để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật có giá trị tồn tại lâu dài.
11 Chính nhờ đặc điểm có tính bền của chất liệu mà chúng ta còn gìn giữ đƣợc các mảng chạm khắc trên gỗ, trên bia đá của cha ông để lại đến ngày nay. Đặc biệt các mảng chạm khắc ở đình làng của những nghệ nhân dân gian đã tạo cho ngôi đình một giá trị nghệ thuật mang tính trang trí cao. Trong chạm khắc đình làng chúng ta thƣờng thấy các tác phẩm đƣợc tạo nên có sự hoành tráng, đồ sộ và những giá trị nghệ thuật đỉnh cao của nghệ thuật đình làng là nhờ có những kỹ thuật chạm nhƣ: Chạm lộng, chạm kênh bong, chạm nổi. Chạm Nổi Chạm nổi là một trong những kỹ thuật chạm xuất hiện nhiều ở các đình làng, hình thức chạm này là “Một hình thức nghệ thuật mà hình tƣợng đƣợc diễn tả trên mặt phẳng bằng độ đục chạm nông sâu khác nhau (trên gỗ, sừng, ngà, đá, kim loại…)”.50] Kỹ thuật chạm nổi đƣợc chia thành 3 loại, tùy theo mức độ chạm nông, sâu có: chạm nổi thấp, chạm nổi vừa và chạm nổi cao.
Tùy theo ý định diễn tả các hình tƣợng mà các nghệ nhân có cách chạm nổi khác nhau, và mỗi kỹ thuật lại phù hợp với chất liệu để chạm khắc: - Chạm nổi thấp: Các hình tƣợng đƣợc chạm với độ nổi rất thấp, đủ để diễn tả độ tƣơng quan tƣơng đối giữa hình khối của đối tƣợng miêu tả. Chạm nổi thấp thƣờng đƣợc thể hiện trên kim loại (đồng, vàng, bạc,…) hoặc thể hiện hoa văn trên mặt phẳng bức chạm để làm nền cho các hình tƣợng khác (nhƣ nền mây hoa trong các bức chạm đá thời Lý; nền vân gấm, nền triện trên các bức hoành phi, câu đối cổ). [24, tr50] Chúng ta có thể hiểu ngắn gọn Chạm nổi thấp là kỹ thuật chạm mà các hình tƣợng đƣợc khắc không cao hơn nhiều so với nền, chúng thích hợp với các chất liệu có bề mặt kim loại, trên hoành phi… 12 - Chạm nổi vừa: Các hình tƣợng đƣợc diễn tả có độ nổi cao hơn loại chạm nổi thấp. Nhƣng những độ cao nhất của các hình tƣợng vẫn nằm trên một mặt phẳng tƣơng đối (nhƣ những bức chạm đá ở dọc theo hành lang và cầu đá chùa Bút Tháp - Bắc Ninh).