Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về di truyền trong chăn nuôi lợn 1. Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn Móng Cái Giống lợn Móng Cái (MC) là giống lợn nội phổ biến nhất ở Việt Nam, có nguồn gốc từ huyện Đầm Hà và huyện Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Lợn MC được nuôi hầu hết ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và một số tỉnh Tây Nguyên.
Giống lợn Móng Cái có tính di truyền tương đối ổn định, sự biến dị không lớn lắm, nhất là màu lông rất thống nhất. Tất cả đầu lợn đen, giữa trán có một điểm trắng, tất cả đều có cổ khoang chia lợn ra 2 phần. Có 2 loại hình: Loại Móng Cái xương to và loại Móng Cái xương nhỏ. Loại xương có tầm vóc nhỏ, đầu nhỏ, mõm hơi dài và thẳng, chân nhỏ đi bàn, lưng hơi võng.
Loại hình xương to thì ngược lại, đầu to, mõm dài vừa phải và bè, trán có nếp nhăn, tai to ngang, chân to, tầm vóc trung bình, có 12 vú trở lên, thể chất yếu. Giống lợn Móng Cái thành thục sớm, đẻ nhiều con, nuôi con khéo. Có nhiều mặt cải tiến hơn lợn Ỉ, có tầm vóc to hơn và dài mình hơn. Có khả năng tiêu hóa và sử dụng thức ăn thô xanh tốt.
Lợn Móng Cái có nhược điểm như tầm vóc còn nhỏ, thể chất yếu, lưng võng, bụng sệ, chân đi bàn, tăng trọng chậm, mình ngắn, ngực mỏng. Lợn MC sinh trưởng chậm: 2 tháng tuổi nặng 6 kg, 10 tháng tuổi đạt khoảng 80-85kg, phát dục sớm; lợn cái 5 tháng tuổi, lợn đực 4 tháng tuổi có khả năng phối giống và có chửa. Lợn MC có từ 8-16 vú, thông thường là 12 vú. Lợn có khả năng sinh sản tốt nhất trong số các giống lợn nội Việt Nam.
Số con sơ sinh mỗi lứa cao (11-13 con), khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 165-175 ngày, lợn nái đẻ 2,1-2,2 lứa/năm, có khả năng nuôi con khéo. Khối lượng sơ sinh thấp khoảng 0,5-0,6 kg/con. Tăng trưởng chậm, tốc độ tăng khối lượng thuần nuôi thịt trung bình đạt 330g/con/ngày, biến động từ 200- c 4 400g/con/ngày. Tỷ lệ móc hàm thấp 70-75%, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ 33-35%, tỷ lệ mỡ/thịt xẻ 35-38%, tiêu tốn thức ăn cao 4,0-4,5kg thức ăn/kg tăng khối lượng.
Lợn MC dễ nuôi, có khả năng thích ứng với hầu hết môi trường sinh thái của Việt Nam, kể cả nơi có điều kiện chăn nuôi chưa phát triển, môi trường sinh thái chưa tốt. Lợn MC ăn tạp có khả năng ăn được hầu hết các loại thức ăn, tận dụng được hầu hết các nguồn thức ăn dư thừa và các loại thức ăn chất lượng thấp, có sức kháng bệnh cao. Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn Meishan Trung Quốc Giống lợn Meishan có nguồn gốc từ vùng hồ và thung lũng của Trung Quốc, chúng được xem như lợn Taihu từ hồ Taihu, Fengjing và Minzhu, giữa miền Bắc và miền Trung của Trung Quốc, một số vùng ven sông Chang Jiang bờ biển phía Đông Nam. Giống lợn Meishan được nhập 2 đợt về Việt Nam vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011.
Giống lợn này có màu đen, mặt và da nhăn, lông đen toàn thân và có vành lông trắng vắt qua vai bao gồm cả chân trước và ngực. Lợn có đầu nhỏ thanh, cổ dài và hẹp thân. Toàn thân trông chắc chắn và vận động tốt, thích hợp với hệ thống chăn nuôi chăn thả trên đồng cỏ. Lợn có khả năng sinh sản rất tốt, đẻ trung bình 15 - 16 con/lứa, có khi 20 - 22 con, bình quân 2,2 lứa/năm.
Lợn Meishan có 8 - 9 cặp vú. Thành thục về sinh dục sớm (lúc 3 tháng tuổi), đẻ nhiều con, lợn nái hiền lành, nuôi con tốt. Giống Meishan từ Trung Quốc, có khả năng tăng trưởng chậm hơn so với các giống châu Âu và có tỷ lệ mỡ cao hơn những thịt lợn Meishan có mùi vị thơm ngon, ngoài ra giống lợn này có khả năng chống chịu bệnh tật tốt do các đặc điểm khác biệt của hệ thống miễn dịch bẩm sinh được quy định một số gen (Bùi Thị Tứ, (2015) [38]). Các giống Meishan có đặc điểm khuôn mặt và làn da nhăn nheo.
Lợn nái trưởng thành có chiều cao khoảng 57,8cm, vòng ngực 100cm và khối c 5 lượng cơ thể sống 61,6 kg. Độ dày mỡ lưng là 2,5cm và tỷ lệ thịt xẻ 66,8%. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy giống lợn này không chỉ thành thục sớm mà còn đẻ sai hơn rất nhiều so với các giống lợn trắng của châu Âu (Haley & Lee 1993) [46]. Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn đực rừng Lợn Rừng là giống lợn hoang dã đang được thuần hóa ở Thái Lan, Việt Nam và ở một số nước khác.
Lợn Rừng thường có hai nhóm giống: nhóm giống mặt dài và nhóm giống mặt ngắn. Lợn Rừng cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, mũi rất thính và khỏe, da lông màu hung nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng hay cổ dày, dài và cứng hơn…Vai thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn và dài đến kheo. Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi rõ. Lợn Rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 3 - 10 con, lứa đầu đẻ từ 3 - 5 con, lứa sau đẻ nhiều hơn (7 - 10 con).
Khối lượng lợn sơ sinh bình quân 0,5 - 0,9 kg/con. Lợn con có bộ lông sọc dưa (vệt lông màu vàng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu). Khi lợn con trên 3 tháng tuổi, các vệt sọc dưa này không còn nữa. Khối lượng bình quân lúc trưởng thành, con đực nặng 80 - 100 kg, con cái nặng 50 - 70 kg.
Cơ sở khoa học của việc sử dụng lợn nái lai Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực và cái thuộc hai quần thể khác nhau giao phối với nhau để tạo ra thế hệ sau. Hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau, do vậy đời con không còn là dòng, giống thuần, mà là con lai giữa hai dòng, hai giống khởi đầu là bố mẹ của chúng (Đặng Vũ Bình, (2000) [4]). c 6 Tổ hợp lai giữa lợn Pi và MC có khả năng sinh sản tốt. Số con để nuôi đạt 11,00 con/ổ, số con ở 60 ngày tuổi/ổ đạt 10,25 con, khối lượng sơ sinh và khối lượng 60 ngày tuổi/con đạt tương ứng là 1,04 và 12,45 kg.
Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 1. Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các biểu hiện động dục và kèm theo quá trình rụng trứng. Đồng thời, lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng để thành thục về thể vóc. Tuy nhiên, trong giai đoạn xảy ra chu kỳ động dục lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình thường.
Chu kỳ của lợn nái phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau: Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác nhau. Ảnh hưởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành. Theo Kralling, lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính trung bình là 20,8 ngày; lứa 6 - 7 là 21,5 ngày; lứa 8 - 9 là 22,4 ngày. Khi theo dõi sinh sản trên lợn Ỉ thấy ở lứa thứ 1 chu kỳ tính 19 ngày, lứa thứ 2 là 20 ngày.
Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kỳ tính ổn định và ngược lại. Trong thực tế sản xuất để xác định thời điểm phối tinh thích hợp thì khi lợn nái động dục phải tăng cường theo dõi để biết giờ xuất hiện biểu hiện động dục đầu tiên, vì vậy cần theo dõi ngày 2 lần (sáng sớm và chiều tối). Thời gian kéo dài động dục của lợn là 3 - 5 ngày tùy theo giống, thời gian phối giống thích hợp là cuối ngày thứ 2, đầu ngày thứ 3 (Nguyễn Văn Nơi, (2010) [23]). Số lượng tế bào trứng rụng trong một chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, tuổi, và chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc.
Qua một số nghiên cứu cho biết, lợn nái Móng Cái 15 - 30 tế bào. Số lượng tế bào trứng rụng phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng. Vì vậy, người ta thường tăng cường nuôi dưỡng lợn nái c 7 trước khi phối giống để tăng số tế bào trứng rụng nhưng đến lúc gần động dục cho giảm tiêu chuẩn ăn. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát dục của lợn nái Trong quá trình sinh trưởng phát triển, lợn cái sẽ dần đi tới sự thành thục về tính.
Tuy nhiên, sự thành thục về tính của lợn phụ thuộc nhiều yếu tố như: Giống: Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái. Giống có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau. Theo Trần Thế Thông lợn nái Móng Cái thành thục về tính lúc 4 tháng 12 ngày, khối lượng đạt 12 kg.
Trong cùng một giống nhưng khi phối đồng huyết thì thành thục về tính muộn hơn. - Chế độ dinh dưỡng: Dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng. Trong cùng một giống, nếu dinh dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm và ngược lại. - Mùa vụ: Theo Smith, lợn con đẻ vào mùa đông thì thành thục sớm hơn về mùa hè.
- Sự có mặt của lợn đực: Sự có mặt của lợn đực đã thúc đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có trứng rụng, nếu hằng ngày chúng ta cho con đực tiếp xúc với lợn nái ở tuổi 165 - 190 ngày đã làm tăng nhanh hoạt động sinh dục của con cái (Lê Xuân Cương, 1986) [6]. Khả năng sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng Khả năng sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về sinh lý sinh dục, khả năng đẻ con, nuôi con, số lứa đẻ trong năm, số lợn con sơ sinh, số lợn con cai sữa, trọng lượng sơ sinh, trọng lượng cai sữa,… (Nguyễn Thiện và cs, (2002) [32]. Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên. Tuổi động dục lần đầu khác nhau về giống lợn, ví dụ: lợn nội có tuổi động dục lần đầu sớm hơn nái ngoại.
Lợn ỉ động dục ở 3 – 4 tháng tuổi (Trần c 8 Văn Phùng, và cs, (2006) [26]).