Luận án tiến sĩ thực trạng một số yếu tố liên quan thành phần loài nấm malassezia spp gây bệnh lang ben ở học sinh 11 15 tuổi và hiệu quả can thiệp tại hải phòng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan thành phần loài nấm malassezia spp gây bệnh lang ben ở học sinh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

Chuyên ngành

Ký sinh trùng y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ y học

2018

196
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm nấm Malassezia spp và bệnh lang ben

1.2. Lịch sử nghiên cứu nấm Malassezia spp

1.3. Nấm Malassezia spp

1.4. Vị trí của nấm Malassezia spp trong hệ thống phân loại

1.5. Đặc điểm hình thể của nấm Malassezia spp

1.6. Đặc điểm sinh thái học của nấm Malassezia spp

1.7. Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của nấm Malassezia spp

1.8. Các hoạt động enzyme

1.9. Phân bố của các loài Malassezia spp

1.10. Các bệnh lý liên quan đến nấm Malassezia spp

1.11. Các phương pháp xác định thành phần loài nấm Malassezia spp

1.12. Kỹ thuật xét nghiệm nấm trực tiếp

1.13. Kỹ thuật nuôi cấy nấm

1.14. Kỹ thuật sinh học phân tử

1.15. Bệnh lang ben. Tình hình bệnh lang ben

1.16. Thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh lang ben

1.17. Một số yếu tố nguy cơ

1.18. Chẩn đoán bệnh lang ben

1.19. Điều trị bệnh lang ben. Phòng bệnh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.8. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

2.9. Nội dung nghiên cứu

2.10. Nghiên cứu thực trạng nhiễm và một số yếu tố liên quan nhiễm nấm lang ben ở học sinh tại Hải Phòng

2.11. Nghiên cứu xác định thành phần loài nấm lang ben ở học sinh tại Hải Phòng. Nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng

2.12. Vật liệu nghiên cứu

2.13. Vật liệu cho xét nghiệm nấm trực tiếp và nuôi cấy

2.14. Vật liệu cho nghiên cứu xác định thành phần loài nấm

2.15. Vật liệu cho nghiên cứu can thiệp điều trị

2.16. Vật liệu cho nghiên cứu can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe

2.17. Phương pháp thu thập số liệu và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu. Khám lâm sàng

2.18. Kỹ thuật xét nghiệm nấm trực tiếp

2.19. Kỹ thuật nuôi cấy

2.20. Kỹ thuật thực hiện phản ứng PCR - RFLP

2.21. Giải trình tự gen

2.22. Kỹ thuật phỏng vấn cộng đồng

2.23. Can thiệp tại cộng đồng

2.24. Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.25. Đặc điểm chung

2.26. Đặc điểm bệnh lang ben

2.27. Kiến thức - thái độ - thực hành của học sinh về bệnh lang ben

2.28. Các chỉ tiêu đánh giá. Các biện pháp khống chế sai số

2.29. Phương pháp xử lý số liệu

2.30. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15 tại Hải Phòng năm 2016

3.2. Một số thông tin về đối tượng nghiên cứu. Thực trạng bệnh lang ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15

3.3. Kiến thức - thái độ - thực hành của học sinh về bệnh lang ben

3.4. Một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh 11 - 15 tuổi

3.5. Thành phần loài nấm Malassezia spp gây lang ben

3.6. Kết quả định danh các loài nấm bằng kỹ thuật PCR - RFLP

3.7. Kết quả giải trình tự gen định danh các loài nấm lang ben

3.8. Hiệu quả của các biện pháp can thiệp

3.9. Hiệu quả điều trị

3.10. Hiệu quả của các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15 tại Hải Phòng năm 2016

4.2. Thực trạng bệnh lang ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15

4.3. Một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben

4.4. Thành phần loài nấm Malassezia spp gây lang ben

4.5. Thành phần loài nấm Malassezia spp gây lang ben định danh bằng PCR - RFLP

4.6. Thành phần loài nấm Malassezia spp định danh bằng phương pháp giải trình tự

4.7. Hiệu quả của các biện pháp can thiệp

4.8. Hiệu quả điều trị. Hiệu quả của các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe

TÍNH MỚI, TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về nấm Malassezia và bệnh lang ben

Nấm Malassezia là một loại nấm men ưa lipid, sống hoại sinh trên bề mặt da người và động vật máu nóng. Hiện có 14 loài Malassezia spp, trong đó 3 loài thường gây lang ben là M. furfur, M. globosa, và M. sympodialis. Lang ben là bệnh da liễu phổ biến, đặc trưng bởi các đám thay đổi màu sắc trên da, thường xuất hiện ở vùng da giàu tuyến bã nhờn như lưng, ngực. Bệnh phổ biến ở lứa tuổi 11-15 tuổi, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm như tại Hải Phòng. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định thành phần loài nấm Malassezia gây bệnh và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp.

1.1. Lịch sử nghiên cứu nấm Malassezia

Nấm Malassezia được phát hiện từ năm 1846 bởi Eichstedt, nhưng mãi đến năm 1927 mới được phân lập trên môi trường nuôi cấy. Ban đầu, nấm này được gọi là Pityrosporum, nhưng sau đó được đổi tên thành Malassezia vào năm 1986. Các nghiên cứu sau này đã xác định vai trò của nấm trong các bệnh da liễu như lang ben, viêm da tiết bã, và viêm nang lông. Các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại đã giúp xác định chính xác các loài nấm và hiểu rõ hơn về cơ chế gây bệnh.

1.2. Đặc điểm sinh học của nấm Malassezia

Nấm Malassezia có đặc điểm hình thái đa dạng, từ hình cầu đến hình bầu dục, với khả năng tạo chồi từ một cực duy nhất. Chúng phụ thuộc vào lipid để phát triển, ngoại trừ loài M. pachydermatis. Các loài nấm này sản xuất các enzyme như lipase và phospholipase, giúp chúng phân hủy lipid trên da và gây bệnh. Malassezia cũng có khả năng kích thích hệ miễn dịch, dẫn đến các phản ứng viêm và thay đổi sắc tố da.

II. Thực trạng bệnh lang ben ở học sinh 11 15 tuổi tại Hải Phòng

Nghiên cứu được thực hiện tại Hải Phòng trong giai đoạn 2016-2017, tập trung vào đối tượng học sinh 11-15 tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc lang ben ở nhóm tuổi này là 31%, cao hơn so với các nhóm tuổi khác. Các yếu tố nguy cơ bao gồm cơ địa ra mồ hôi nhiều, thói quen mặc chung quần áo, và tiền sử mắc bệnh trong gia đình. Nấm Malassezia được xác định là tác nhân chính gây bệnh, với loài M. globosa chiếm tỷ lệ cao nhất.

2.1. Yếu tố nguy cơ và dịch tễ học

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm khí hậu nóng ẩm, thói quen vệ sinh kém, và sử dụng chung đồ dùng cá nhân. Hải Phòng là thành phố có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của nấm Malassezia. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng học sinh có tiền sử mắc bệnh hoặc gia đình có người mắc bệnh có nguy cơ cao hơn. Các triệu chứng phổ biến bao gồm ngứa, thay đổi sắc tố da, và bong vảy mỏng.

2.2. Phương pháp chẩn đoán và xác định loài nấm

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PCR-RFLP và giải trình tự gen để xác định thành phần loài nấm Malassezia. Kết quả cho thấy M. globosa là loài phổ biến nhất, chiếm 45% tổng số mẫu. Các loài khác như M. furfur và M. sympodialis cũng được phát hiện nhưng với tỷ lệ thấp hơn. Phương pháp này cho phép phân biệt chính xác các loài nấm và đánh giá mức độ đa dạng của chúng trong cộng đồng.

III. Hiệu quả can thiệp điều trị và phòng ngừa

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp bao gồm điều trị bằng thuốc kháng nấm và truyền thông giáo dục sức khỏe. Kết quả cho thấy tỷ lệ khỏi bệnh sau 1 tháng điều trị là 85%, trong khi tỷ lệ tái phát là 15%. Các biện pháp truyền thông giúp cải thiện kiến thức và thực hành phòng bệnh của học sinh, giảm đáng kể nguy cơ tái nhiễm.

3.1. Phác đồ điều trị và kết quả

Phác đồ điều trị sử dụng thuốc kháng nấm nhóm azole như ketoconazolefluconazole. Kết quả cho thấy tỷ lệ khỏi bệnh cao, đặc biệt ở nhóm học sinh được điều trị kết hợp bôi và uống thuốc. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát vẫn còn cao, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

3.2. Truyền thông giáo dục sức khỏe

Các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe được triển khai tại các trường học, tập trung vào việc nâng cao kiến thức về bệnh lang ben và các biện pháp phòng ngừa. Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể trong nhận thức và thực hành của học sinh, giúp giảm nguy cơ lây nhiễm và tái phát bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng một số yếu tố liên quan thành phần loài nấm malassezia spp gây bệnh lang ben ở học sinh 11 15 tuổi và hiệu quả can thiệp tại hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Malassezia spp là nấm men ƣa lipid, sống hoại sinh ở bề mặt da ngƣời và động vật máu nóng. Hiện nay, có tất cả 14 loài Malassezia spp, trong đó có 3 loài gây lang ben thƣờng gặp nhất là M. Ngoài ra, Malassezia spp còn là tác nhân thứ phát làm nặng nề hơn tình trạng của một số bệnh da khác: viêm da tiết bã, viêm nang lông, viêm da cơ địa, bệnh vẩy nến, … [31] cũng nhƣ có thể là một nguyên nhân gây nhiễm trùng toàn thân [8], [61] ở trẻ sơ sinh, ngƣời đƣợc nuôi dƣỡng bằng nhũ tƣơng lipid, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Malassezia spp thƣờng gây bệnh lang ben là một bệnh phổ biến ở ngƣời.

Bệnh phân bố ở mọi nơi trên thế giới, nhất là ở các nƣớc nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm với tỷ lệ nhiễm là 30% - 50%, ở vùng ôn đới là 14%, vùng hàn đới là 1,1% [4], [64]. Tại Việt Nam, bệnh khá phổ biến nhƣng do không có ảnh hƣởng lớn đến sức khỏe nên ít đƣợc thống kê, báo cáo [3]. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh lang ben nhƣng gặp nhiều hơn ở lứa tuổi dậy thì từ 11 - 15 tuổi [64]. Theo nghiên cứu của Jena tại Ấn Độ trên đối tƣợng dƣới 15 tuổi có tỷ lệ bệnh lang ben là 31% [60].

Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động mạnh mẽ của tuyến bã nhờn đã tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho nấm lang ben phát triển. Cơ địa ra mồ hôi nhiều, ngủ chung, mặc chung quần áo, tiền sử mắc bệnh lang ben trƣớc đó cũng nhƣ của ngƣời thân trong gia đình đƣợc coi là yếu tố thuận lợi. Các tổn thƣơng thay đổi sắc tố trên da đƣợc cho là vệ sinh kém đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến tâm lý của học sinh. Các loài nấm Malassezia spp đƣợc xác định dựa vào các kỹ thuật chẩn đoán định danh nấm truyền thống quá phức tạp và mất nhiều thời gian, không cho phép phân biệt đƣợc tất cả các loài nấm Malassezia spp.

Vì vậy, các nghiên cứu hiện nay sử dụng nhiều kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại đã tạo 2 ra ngân hàng dữ liệu giúp các nhà khoa học trong nƣớc và trên thế giới hiểu sâu hơn về thành phần loài, dịch tễ học và bệnh sinh của các bệnh gây ra bởi nấm Malassezia spp. Điều trị bệnh lang ben không khó song tỷ lệ tái phát cao [85]. Phác đồ điều trị có thể bôi, uống thuốc kháng nấm hoặc phối hợp. Thuốc bôi thƣờng đƣợc áp dụng cho tổn thƣơng có diện tích nhỏ.

Thuốc uống kháng nấm đƣợc tiến hành theo phác đồ thƣờng quy có thể tốn kém và ảnh hƣởng không nhỏ đến chức năng gan thận, nhất là ngƣời suy giảm miễn dịch và có tiền sử suy gan thận [54]. Hiện nay kháng sinh kháng nấm nhóm azole nhƣ ketoconazole, fluconazole, itraconazole là những lựa chọn đầu tay. Hải Phòng là thành phố công nghiệp nằm ở miền Bắc Việt Nam với đặc điểm khí hậu thuận lợi cho các bệnh nấm phát triển nhƣng đến nay chƣa có một nghiên cứu nào về bệnh lang ben và các yếu tố liên quan tại cộng đồng trên đối tƣợng 11 - 15 tuổi cũng nhƣ thành phần loài nấm Malassezia spp gây lang ben. Do vậy, để góp phần đánh giá đúng vai trò y học của nấm Malassezia spp, áp dụng các phƣơng pháp chẩn đoán và điều trị cũng nhƣ phòng chống bệnh lang ben có hiệu quả tại Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung, chúng tôi đã triển khai nghiên cứu: “Thực trạng, một số yếu tố lien quan, thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh lang ben ở học sinh 11 - 15 tuổi và hiệu quả can thiệp tại Hải Phòng (2016 - 2017)”với mục tiêu: 1.

Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh 11 - 15 tuổi tại Hải Phòng năm 2016. Xác định thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh lang ben. Đánh giá hiệu quả can thiệp điều trị đặc hiệu và truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh lang ben năm 2016 - 2017. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Khái niệm nấm Malassezia spp và bệnh lang ben Malassezia spp là nấm men ƣa lipid, sống hoại sinh ở bề mặt da ngƣời và động vật máu nóng, là tác nhân của một số bệnh ngoài da cũng nhƣ các bệnh nhiễm trùng hệ thống [31], [61]. Những nấm men này hiện nay đƣợc coi là các mầm bệnh cơ hội. Quan sát bằng kính hiển vi điện tử cho thấy loại nấm men này có một tế bào đa lớp dày với chồi hình thành liên tục từ một cực duy nhất trên tế bào cha mẹ, vì thế cho phép nhận dạng dễ dàng các loại nấm men này trong da. Các loài nấm Malassezia spp đều cần có chuỗi axit béo dài trong môi trƣờng nuôi cấy trừ M.

pachydermatis nên các môi trƣờng nuôi cấy thông thƣờng đƣợc sử dụng để xác định nấm men không thể áp dụng cho nấm này. Vì vậy, trong một khoảng thời gian dài, khởi đầu từ năm 1846 chúng đã đƣợc phát hiện trên các tổn thƣơng ở da nhƣng đến năm 1927 chúng mới đƣợc phân lập trên môi trƣờng nuôi cấy có bổ sung chất béo. Lang ben (pityriasis versicolor) là một bệnh mạn tính của lớp sừng do nấm men Malassezia spp gây nên. Bệnh biểu hiện bằng những đám thay đổi màu sắc trên da có hình tròn hoặc hình bầu dục, bong vảy mỏng, mịn, các tổn thƣơng có thể đứng rải rác hoặc liên kết với nhau thành đám, tập trung chủ yếu ở vùng da giàu tuyến bã nhờn nhƣ lƣng, ngực, … và kèm theo ngứa [3], [4].

Lịch sử nghiên cứu nấm Malassezia spp Lang ben là một thuật ngữ đƣợc sử dụng bởi Willan vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Năm 1846, Eichstedt đã mô tả một giống nấm men Malaasezia đƣợc xác định là nguyên nhân gây bệnh lang ben ở ngƣời. Ông quan sát thấy sự hiện diện của nấm men và nấm sợi trong bệnh phẩm từ bệnh nhân, nhƣng loài nấm này đã không đƣợc nêu tên cho đến khi Robin xác định là Microspporon furfur vào năm 1853. Năm 1874, Malassez lần đầu tiên mô tả 4 cả hai “bào tử” hình cầu và hình bầu dục có chồi trên vảy da của những bệnh nhân viêm da tăng tiết bã nhờn, ông đã đặt tên “Vi khuẩn hình chai của Unna” để mô tả những tế bào hình bầu dục nhỏ trong vảy da.

Từ những năm 40 - 50 của thế kỷ 19, các tác giả đã ghi nhận vai trò gây bệnh của nấm với tên gọi Pityrospporum và tác giả nhận thấy sự hiện diện của nấm trên một số bệnh nhƣ: lang ben, viêm da dầu, viêm nang lông, viêm da cơ địa. Trong năm 1925, Weidman phân lập đƣợc nấm men từ da của một con tê giác có hình thái giống P. ovale nhƣng lại không phụ thuộc vào chất béo để tăng trƣởng và đặt tên là P. Trong nhiều năm sau đó, một số tác giả tiến hành phân lập nhiều loại nấm men từ động vật và đều kết luận là P.

Loài này không tồn tại trên bề mặt da của con ngƣời nhƣng đƣợc tìm thấy ở nhiều vật nuôi. Năm 1927, Panja công nhận sự tƣơng đồng giữa Malassezia và Pityrospporum, đặt tên chúng M. ovalis, và loài thứ ba, M. tropica là nguyên nhân của lang ben vùng nhiệt đới.

Tuy nhiên, khái niệm này đã không đƣợc chấp nhận bởi các nhà nghiên cứu tại thời điểm đó vì ngƣời ta cho rằng Malassezia là nấm sợi còn Pityrospporum là nấm men. Trong tác phẩm "Nấm men, một nghiên cứu phân loại", xuất bản đầu tiên năm 1952 đã liệt kê hai loài nấm: P. orbiculare đã đƣợc thêm vào chi Pityrospporum trong lần xuất bản thứ hai năm 1970. Trong 3 loài này có hai loài nấm men ƣa lipid gây bệnh ở ngƣời là P.

orbiculaire và một loài không ƣa lipid gây bệnh cho động vật là P. Trong tác phẩm này, tác giả đã thừa nhận sự giống nhau giữa Pityrospporum và Malassezia. Vào năm 1986, tại Ủy ban Quốc tế về phân loại nấm, một cái tên chung duy nhất đƣợc đề xuất cho các loại nấm này là Malassezia. Mặc dù quyết định này đã đƣợc công nhận bởi các nhà phân loại, "Pityrospporum" tiếp tục đƣợc sử dụng, đặc biệt là trong chuyên ngành da liễu.

5 Năm 1995 - 1996, nhiều thành tựu khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, ứng dụng thành công việc giải mã trình tự bộ gen và đã tìm ra 7 loài Malassezia [38]. Đến năm 2004, các nhà khoa học Nhật Bản tiếp tục tìm ra thêm 6 loài mới nữa trong đó có 3 loài có nguồn gốc từ động vật và 3 loài có nguồn gốc từ ngƣời. Từ đó, các nhà khoa học thống nhất tên gọi cho nấm này là Malassezia. Cho đến hiện nay các nhà khoa học đã phân lập đƣợc tất cả là 14 loài Malassezia [31], [34],[ 35], [38].

Các loài này đóng vai trò rất quan trọng trong căn nguyên sinh bệnh của lang ben. Nấm Malassezia spp 1. Vị trí của nấm Malassezia spp trong hệ thống phân loại Giới : Fungi Ngành : Basidiomycota Lớp : Exobasidiomycetes Bộ : Malasseziales Họ : Malasseziaceae Giống : Malassezia Loài : M. Đặc điểm hình thể của nấm Malassezia spp Quan sát dƣới kính hiển vi quang học, các tế bào nấm men có hình tròn hoặc hình bầu dục hay hình trụ, kích thƣớc 3 - 8 µm [91].

Các tế bào nấm men sinh sản bằng cách nảy chồi, các tế bào con khi tách khỏi tế bào mẹ sẽ để lại một vết sẹo, từ vết sẹo này các tế bào con khác lại nhô lên [27]. Dạng sinh sản đa chồi không xảy ra, nhƣng các tế bào con sau khi đƣợc sinh ra lại không tách hoàn toàn khỏi tế bào mẹ nên khi quan sát dƣới kính hiển vi thấy dính nhau thành chùm. 6 Mô tả về các đặc điểm khuẩn lạc của Malassezia spp trên môi trƣờng nuôi cấy rất hạn chế cho đến khi môi trƣờng nuôi cấy cung cấp đầy đủ lipid cho sự phát triển của nấm men này. Trên các môi trƣờng nuôi cấy khác nhau sẽ cho hình thể khuẩn lạc khác nhau.

Trên môi trƣờng CHROMagarTM Malassezia khuẩn lạc có màu từ hồng đến tím và có thể dùng để định loài. Quan sát dƣới kính hiển vi điện tử, vách tế bào của Malassezia spp có một cấu trúc độc nhất [79]. Nó dày hơn vách của các tế bào nấm men khác, khoảng 0,12 mm, gồm nhiều lớp mỏng và màng plasma [79], [115]. Chính các lớp mỏng này đóng một vai trò quan trọng trong sự kết dính của nấm vào da ngƣời và ống thông.

Vách tế bào của Malassezia spp có một tỷ lệ lipid cao là 15% [118] giúp cho tế bào Malassezia có sức đề kháng với các ảnh hƣởng từ bên ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu nấm Malassezia spp gây lang ben ở học sinh 11-15 tuổi và hiệu quả can thiệp tại Hải Phòng là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc xác định và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp đối với bệnh lang ben do nấm Malassezia spp gây ra ở nhóm học sinh từ 11 đến 15 tuổi tại Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tỷ lệ mắc bệnh mà còn đề xuất các giải pháp điều trị và phòng ngừa hiệu quả, giúp cải thiện sức khỏe da liễu cho cộng đồng học sinh.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh lý da liễu và phương pháp điều trị, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh Tuyên Quang, một nghiên cứu chuyên sâu về chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới WHO năm 2013 cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các bệnh lý liên quan đến mô học. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng Xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis sẽ cung cấp thêm góc nhìn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.