ĐẶT VẤN ĐỀ Malassezia spp là nấm men ƣa lipid, sống hoại sinh ở bề mặt da ngƣời và động vật máu nóng. Hiện nay, có tất cả 14 loài Malassezia spp, trong đó có 3 loài gây lang ben thƣờng gặp nhất là M. Ngoài ra, Malassezia spp còn là tác nhân thứ phát làm nặng nề hơn tình trạng của một số bệnh da khác: viêm da tiết bã, viêm nang lông, viêm da cơ địa, bệnh vẩy nến, … [31] cũng nhƣ có thể là một nguyên nhân gây nhiễm trùng toàn thân [8], [61] ở trẻ sơ sinh, ngƣời đƣợc nuôi dƣỡng bằng nhũ tƣơng lipid, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Malassezia spp thƣờng gây bệnh lang ben là một bệnh phổ biến ở ngƣời.
Bệnh phân bố ở mọi nơi trên thế giới, nhất là ở các nƣớc nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm với tỷ lệ nhiễm là 30% - 50%, ở vùng ôn đới là 14%, vùng hàn đới là 1,1% [4], [64]. Tại Việt Nam, bệnh khá phổ biến nhƣng do không có ảnh hƣởng lớn đến sức khỏe nên ít đƣợc thống kê, báo cáo [3]. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh lang ben nhƣng gặp nhiều hơn ở lứa tuổi dậy thì từ 11 - 15 tuổi [64]. Theo nghiên cứu của Jena tại Ấn Độ trên đối tƣợng dƣới 15 tuổi có tỷ lệ bệnh lang ben là 31% [60].
Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động mạnh mẽ của tuyến bã nhờn đã tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho nấm lang ben phát triển. Cơ địa ra mồ hôi nhiều, ngủ chung, mặc chung quần áo, tiền sử mắc bệnh lang ben trƣớc đó cũng nhƣ của ngƣời thân trong gia đình đƣợc coi là yếu tố thuận lợi. Các tổn thƣơng thay đổi sắc tố trên da đƣợc cho là vệ sinh kém đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến tâm lý của học sinh. Các loài nấm Malassezia spp đƣợc xác định dựa vào các kỹ thuật chẩn đoán định danh nấm truyền thống quá phức tạp và mất nhiều thời gian, không cho phép phân biệt đƣợc tất cả các loài nấm Malassezia spp.
Vì vậy, các nghiên cứu hiện nay sử dụng nhiều kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại đã tạo 2 ra ngân hàng dữ liệu giúp các nhà khoa học trong nƣớc và trên thế giới hiểu sâu hơn về thành phần loài, dịch tễ học và bệnh sinh của các bệnh gây ra bởi nấm Malassezia spp. Điều trị bệnh lang ben không khó song tỷ lệ tái phát cao [85]. Phác đồ điều trị có thể bôi, uống thuốc kháng nấm hoặc phối hợp. Thuốc bôi thƣờng đƣợc áp dụng cho tổn thƣơng có diện tích nhỏ.
Thuốc uống kháng nấm đƣợc tiến hành theo phác đồ thƣờng quy có thể tốn kém và ảnh hƣởng không nhỏ đến chức năng gan thận, nhất là ngƣời suy giảm miễn dịch và có tiền sử suy gan thận [54]. Hiện nay kháng sinh kháng nấm nhóm azole nhƣ ketoconazole, fluconazole, itraconazole là những lựa chọn đầu tay. Hải Phòng là thành phố công nghiệp nằm ở miền Bắc Việt Nam với đặc điểm khí hậu thuận lợi cho các bệnh nấm phát triển nhƣng đến nay chƣa có một nghiên cứu nào về bệnh lang ben và các yếu tố liên quan tại cộng đồng trên đối tƣợng 11 - 15 tuổi cũng nhƣ thành phần loài nấm Malassezia spp gây lang ben. Do vậy, để góp phần đánh giá đúng vai trò y học của nấm Malassezia spp, áp dụng các phƣơng pháp chẩn đoán và điều trị cũng nhƣ phòng chống bệnh lang ben có hiệu quả tại Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung, chúng tôi đã triển khai nghiên cứu: “Thực trạng, một số yếu tố lien quan, thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh lang ben ở học sinh 11 - 15 tuổi và hiệu quả can thiệp tại Hải Phòng (2016 - 2017)”với mục tiêu: 1.
Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh 11 - 15 tuổi tại Hải Phòng năm 2016. Xác định thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh lang ben. Đánh giá hiệu quả can thiệp điều trị đặc hiệu và truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh lang ben năm 2016 - 2017. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm nấm Malassezia spp và bệnh lang ben Malassezia spp là nấm men ƣa lipid, sống hoại sinh ở bề mặt da ngƣời và động vật máu nóng, là tác nhân của một số bệnh ngoài da cũng nhƣ các bệnh nhiễm trùng hệ thống [31], [61]. Những nấm men này hiện nay đƣợc coi là các mầm bệnh cơ hội. Quan sát bằng kính hiển vi điện tử cho thấy loại nấm men này có một tế bào đa lớp dày với chồi hình thành liên tục từ một cực duy nhất trên tế bào cha mẹ, vì thế cho phép nhận dạng dễ dàng các loại nấm men này trong da. Các loài nấm Malassezia spp đều cần có chuỗi axit béo dài trong môi trƣờng nuôi cấy trừ M.
pachydermatis nên các môi trƣờng nuôi cấy thông thƣờng đƣợc sử dụng để xác định nấm men không thể áp dụng cho nấm này. Vì vậy, trong một khoảng thời gian dài, khởi đầu từ năm 1846 chúng đã đƣợc phát hiện trên các tổn thƣơng ở da nhƣng đến năm 1927 chúng mới đƣợc phân lập trên môi trƣờng nuôi cấy có bổ sung chất béo. Lang ben (pityriasis versicolor) là một bệnh mạn tính của lớp sừng do nấm men Malassezia spp gây nên. Bệnh biểu hiện bằng những đám thay đổi màu sắc trên da có hình tròn hoặc hình bầu dục, bong vảy mỏng, mịn, các tổn thƣơng có thể đứng rải rác hoặc liên kết với nhau thành đám, tập trung chủ yếu ở vùng da giàu tuyến bã nhờn nhƣ lƣng, ngực, … và kèm theo ngứa [3], [4].
Lịch sử nghiên cứu nấm Malassezia spp Lang ben là một thuật ngữ đƣợc sử dụng bởi Willan vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Năm 1846, Eichstedt đã mô tả một giống nấm men Malaasezia đƣợc xác định là nguyên nhân gây bệnh lang ben ở ngƣời. Ông quan sát thấy sự hiện diện của nấm men và nấm sợi trong bệnh phẩm từ bệnh nhân, nhƣng loài nấm này đã không đƣợc nêu tên cho đến khi Robin xác định là Microspporon furfur vào năm 1853. Năm 1874, Malassez lần đầu tiên mô tả 4 cả hai “bào tử” hình cầu và hình bầu dục có chồi trên vảy da của những bệnh nhân viêm da tăng tiết bã nhờn, ông đã đặt tên “Vi khuẩn hình chai của Unna” để mô tả những tế bào hình bầu dục nhỏ trong vảy da.
Từ những năm 40 - 50 của thế kỷ 19, các tác giả đã ghi nhận vai trò gây bệnh của nấm với tên gọi Pityrospporum và tác giả nhận thấy sự hiện diện của nấm trên một số bệnh nhƣ: lang ben, viêm da dầu, viêm nang lông, viêm da cơ địa. Trong năm 1925, Weidman phân lập đƣợc nấm men từ da của một con tê giác có hình thái giống P. ovale nhƣng lại không phụ thuộc vào chất béo để tăng trƣởng và đặt tên là P. Trong nhiều năm sau đó, một số tác giả tiến hành phân lập nhiều loại nấm men từ động vật và đều kết luận là P.
Loài này không tồn tại trên bề mặt da của con ngƣời nhƣng đƣợc tìm thấy ở nhiều vật nuôi. Năm 1927, Panja công nhận sự tƣơng đồng giữa Malassezia và Pityrospporum, đặt tên chúng M. ovalis, và loài thứ ba, M. tropica là nguyên nhân của lang ben vùng nhiệt đới.
Tuy nhiên, khái niệm này đã không đƣợc chấp nhận bởi các nhà nghiên cứu tại thời điểm đó vì ngƣời ta cho rằng Malassezia là nấm sợi còn Pityrospporum là nấm men. Trong tác phẩm "Nấm men, một nghiên cứu phân loại", xuất bản đầu tiên năm 1952 đã liệt kê hai loài nấm: P. orbiculare đã đƣợc thêm vào chi Pityrospporum trong lần xuất bản thứ hai năm 1970. Trong 3 loài này có hai loài nấm men ƣa lipid gây bệnh ở ngƣời là P.
orbiculaire và một loài không ƣa lipid gây bệnh cho động vật là P. Trong tác phẩm này, tác giả đã thừa nhận sự giống nhau giữa Pityrospporum và Malassezia. Vào năm 1986, tại Ủy ban Quốc tế về phân loại nấm, một cái tên chung duy nhất đƣợc đề xuất cho các loại nấm này là Malassezia. Mặc dù quyết định này đã đƣợc công nhận bởi các nhà phân loại, "Pityrospporum" tiếp tục đƣợc sử dụng, đặc biệt là trong chuyên ngành da liễu.
5 Năm 1995 - 1996, nhiều thành tựu khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, ứng dụng thành công việc giải mã trình tự bộ gen và đã tìm ra 7 loài Malassezia [38]. Đến năm 2004, các nhà khoa học Nhật Bản tiếp tục tìm ra thêm 6 loài mới nữa trong đó có 3 loài có nguồn gốc từ động vật và 3 loài có nguồn gốc từ ngƣời. Từ đó, các nhà khoa học thống nhất tên gọi cho nấm này là Malassezia. Cho đến hiện nay các nhà khoa học đã phân lập đƣợc tất cả là 14 loài Malassezia [31], [34],[ 35], [38].
Các loài này đóng vai trò rất quan trọng trong căn nguyên sinh bệnh của lang ben. Nấm Malassezia spp 1. Vị trí của nấm Malassezia spp trong hệ thống phân loại Giới : Fungi Ngành : Basidiomycota Lớp : Exobasidiomycetes Bộ : Malasseziales Họ : Malasseziaceae Giống : Malassezia Loài : M. Đặc điểm hình thể của nấm Malassezia spp Quan sát dƣới kính hiển vi quang học, các tế bào nấm men có hình tròn hoặc hình bầu dục hay hình trụ, kích thƣớc 3 - 8 µm [91].
Các tế bào nấm men sinh sản bằng cách nảy chồi, các tế bào con khi tách khỏi tế bào mẹ sẽ để lại một vết sẹo, từ vết sẹo này các tế bào con khác lại nhô lên [27]. Dạng sinh sản đa chồi không xảy ra, nhƣng các tế bào con sau khi đƣợc sinh ra lại không tách hoàn toàn khỏi tế bào mẹ nên khi quan sát dƣới kính hiển vi thấy dính nhau thành chùm. 6 Mô tả về các đặc điểm khuẩn lạc của Malassezia spp trên môi trƣờng nuôi cấy rất hạn chế cho đến khi môi trƣờng nuôi cấy cung cấp đầy đủ lipid cho sự phát triển của nấm men này. Trên các môi trƣờng nuôi cấy khác nhau sẽ cho hình thể khuẩn lạc khác nhau.
Trên môi trƣờng CHROMagarTM Malassezia khuẩn lạc có màu từ hồng đến tím và có thể dùng để định loài. Quan sát dƣới kính hiển vi điện tử, vách tế bào của Malassezia spp có một cấu trúc độc nhất [79]. Nó dày hơn vách của các tế bào nấm men khác, khoảng 0,12 mm, gồm nhiều lớp mỏng và màng plasma [79], [115]. Chính các lớp mỏng này đóng một vai trò quan trọng trong sự kết dính của nấm vào da ngƣời và ống thông.
Vách tế bào của Malassezia spp có một tỷ lệ lipid cao là 15% [118] giúp cho tế bào Malassezia có sức đề kháng với các ảnh hƣởng từ bên ngoài.