Đặt vấn đề Việt Nam là nước có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng. Tổng số loài thực vật đã ghi nhận cho Việt Nam là 10.500 loài, ước đoán hệ thực vật Việt Nam có khoảng 12. Trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30%. Kết quả điều tra nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2005 của Viện Dược liệu (2006) cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc.
Hiện nay người ta có xu hướng quay trở về với cây thuốc và thuốc có nguồn gốc thiên nhiên tạo ra hơn là hóa chất làm thuốc. Xu hướng này đã tác động đến việc sản xuất, thu hái, chế biến, lưu thông, tiêu thụ và sử dụng dược liệu thảo mộc. Vào thời nhà Hồ, cây sâm báo (Abelmoschus sagittifolius Kurz septentrionalis Gagnep.) là dược liệu quý dùng để chữa bệnh, là thức uống ngon lành, và loại thuốc bồi bổ cho hoàng thân quốc thích trong giới hoàng gia. Sâm báo còn là nguyên liệu dùng để chế biến thành món ăn ngon, rượu quý để vua Hồ thiết đãi trong các bữa tiệc cung đình.
Thời chúa Trịnh, cây sâm báo cũng là một loại sâm quý, chuyên cống tiến cho vua chúa và các dịp đặc biệt. Khi nhà Hồ diệt vong, chúa Trịnh suy tàn… Sâm báo đã thất truyền, chỉ số ít người biết về công dụng tuyệt diệu của cây sâm. Những năm trước đây, sâm báo mọc khá nhiều ở núi Báo. Tuy nhiên, do nhu cầu tiêu thụ lớn, nên người dân khai thác ồ ạt, khiến sâm báo đứng trước nguy cơ cạn kiệt.
Nhận thấy giá trị to lớn của loại cây này, chính quyền địa phương kết hợp với bà con nông dân cùng khôi phục và phát triển cây sâm báo. Sâm Báo còn có nhiều tên gọi khác như: Sâm Thổ Hào, Sâm Bố Chính, nhân sâm Phú Yên…và được phát hiện ở nhiều vùng miền ở nước ta. Hiện nay cây sâm báo đang được nhân giống và trồng tại các địa phương đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Đi cùng với sản xuất là những bệnh gây hại trên loài cây này cũng gây ra những thiệt hại cho người trồng.
1 Do vậy, được sự cho phép của Bộ môn Bệnh Cây, Khoa Nông Học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam. Dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Huy, tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nấm Fusarium spp. hại cây Sâm Báo tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa năm 2021”.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu, xác định loài nấm Fusarium spp. gây hại vùng gốc rễ cây sâm báo năm 2021 tại vùng Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, sự phát triển của nấm trên môi trường nhân tạo, ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ, PH đến sự phát triển của nấm và khảo sát khả năng ức chế nấm Fusarium spp. bằng vi khuẩn đối kháng, nấm Cheatomium đối kháng.
Yêu cầu Điều tra, xác định thành phần và mức độ phổ biến của bệnh nấm hại sâm báo năm 2021 tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Phân lập nuôi cấy các mẫu nấm Fusarium spp. gây hại vùng gốc rễ cây sâm báo tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của nấm Fusarium spp.
hại vùng gốc rễ cây sâm báo tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Khảo sát tính gây bệnh của nấm Fusarium spp. trên cây sâm báo trồng trong điều kiện chậu vại Khảo sát, đánh giá khả năng ức chế của vi khuẩn đối kháng đối với nấm Fusarium spp. Khảo sát, đánh giá khả năng ức chế của nấm đối kháng Cheatomium với nấm Fusarium spp.
2 PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm chung về cây sâm báo, tình hình sản xuất cây sâm báo ở trong và ngoài nước Các triều đại phong kiến đã nhận xét Sâm Báo là “Đại Việt đệ nhất danh sâm”. Sách “Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí” của Lưu Công Đạo viết: “Nước Nam có nhiều Sâm, chỉ có Sâm đất Biện Thượng công hiệu hơn hẳn các nơi khác. Dùng nhân Sâm ở núi Báo nhiều hiệu nghiệm kỳ lạ”.
Sâm Báo là loài sâm được dùng để dâng vua, tiến chúa từ nhiều trăm năm trước. Bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” nhận định, Sâm Báo đặc biệt quý hiếm và xếp vào dòng Sâm Bố Chính. Theo Báo tuổi trẻ Cây Sâm Báo có tên khoa học Abelmoschus Sagittifolius (Kurz) Merr, họ Bông Malvaceae. Rễ sâm báo có chứa hợp chất coumarin, flavonoid, đường khử, chất nhầy, acidamin, acid hữu cơ, phytosterol và sesquiterpen.
Hàm lượng chất nhầy 26,7%. Các axid amin gồm 11 chất, gồm alann, prilin, tyrosin, phenylalamin, leucin… và các khoáng tốt cho cơ thể như canxi, natri, magie, sắt, đồng, kẽm photpho. Theo Đông y, Sâm Báo có vị ngọt nhạt, tính bình, vào kinh phế tỳ, có tác dụng: - Nhuận phế, dưỡng tâm, sinh tân dịch; trị ho, sốt nóng, phổi yếu; - Chữa kinh nguyệt không đều; hỗ trợ điều trị mất ngủ, kém ăn và đau lưng; - Điều trị bệnh táo bón, ho kèm theo sốt nóng, người mệt mỏi khó chịu; - Bồi bổ sức khỏe cho những người bị suy nhược cơ thể, sức khỏe gầy yếu, những bệnh nhân mới ốm dậy; bổ dương, chữa yếu sinh lý; 3 - Dùng làm loại nước giải khát rất tốt, giúp điều kinh, chữa bệnh phổi, thông tiểu tiện… Ngoài củ sâm, còn có thể dùng lá và hoa chữa ghẻ ngứa; sao với gạo thì tính ấm bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá tốt. Huyen et al.
(2021) Ở Việt Nam, Sâm bố chính có nhiều tên gọi khác nhau như Bố chính sâm, Sâm báo, Thổ hào sâm, Nhân sâm Phú Yên. Tính không thống nhất về danh pháp gây khó khăn cho quá trình tra cứu thông tin và dễ gây nhầm lẫn khi phân loại đã đặt ra yêu cầu về thẩm định tên khoa học. Sâm bố chính đã được mô tả về hình thái nhưng vẫn dễ gây nhầm lẫn với một số loài cùng chi Đậu bắp (Abelmoschus) do có những đặc điểm tương đồng như cây thân cỏ; lá chia thùy chân vịt, có lông nhám; quả nang, hình thoi, hình bầu dục hay thuôn dài, thường có chóp nhọn, khi chín mở ở 26 lưng thành 5 mảnh quả, có lông cứng,… Theo báo điện tử Thanh Hóa (2020) tính đến tháng 6-2020, trên địa bàn huyện có hơn 8 ha trồng cây sâm báo, tập trung chủ yếu ở các xã Minh Tân và Vĩnh Hùng. Trong đó, có 5 ha trồng tập trung quy mô lớn, thực hiện liên kết sản xuất.
So với những cây trồng khác, trồng cây sâm báo rất khó, phải lên luống theo hướng dốc, tránh gây ngập úng sau mưa lớn, bảo đảm thoát nước tốt trong mùa mưa và có mật độ trồng phù hợp. Do đó, việc triển khai thực hiện mở rộng diện tích cây sâm báo theo hướng tập trung quy mô lớn, liên kết sản xuất không chỉ khuyến khích, phát huy giá trị của loại cây trồng bản địa mà còn thúc đẩy người dân áp dụng kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, chế biến dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa. Theo Hoàng Giang (2020) trồng Sâm Báo cần tưới tiêu đúng theo các yêu cầu và theo từng thời kì tăng trưởng: Thường xuyên tưới giữ ẩm, dùng hệ thống tưới nhỏ giọt cho là tốt nhất, ngoài ra có thể sử dụng phương pháp tưới ngấm. Nước tưới cho Sâm Báo có thể sử dụng là nước sông, suối, ao, hồ, giếng khoan.
là nước an toàn được giới hạn bởi GAP. Rãnh luống trồng sâm thường xuyên xới xáo cỏ để khơi thông và vệ sinh sạch sẽ, tránh nước mưa ngập úng cục bộ. Nước dùng để tưới cần đạt đảm bảo theo tiêu chuẩn của địa phương, quốc gia: Giới hạn 4 cho phép của các vi sinh vật gây bệnh trong nước (E.coli) theo QCVN 39:2011/ BTNMT; Giới hạn cho phép của kim loại nặng trong nước (As; Cd; Cr; Hg;Cu; Pb;Zn) theo QCVN39:2011/ BTNMT; Không để cây ở vào tình trạng thiếu nước hoặc úng nước. Mọi hóa chất nông nghiệp dùng để kích thích tăng trưởng hoặc để bảo vệ cây cần được hạn chế ở mức tối thiểu và chỉ áp dụng khi không còn biện pháp nào khác.
Giới hạn tồn đọng thuốc BVTV ở cả cây giống và trên sản phẩm thảo dược khi thu hoạch phải theo quy định của các cơ quan luật pháp địa phương, khu vực và cấp quốc gia của các nước và khu vực của cả nhà cung cấp giống và người sử dụng cuối cùng. Chỉ có các nhân viên đủ khả năng sử dụng các thiết bị đã có sự phê chuẩn mới được tiến hành áp dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Tất cả các lần áp dụng đều phải lưu hồ sơ. Theo Nguyễn Xuân Nam (2020), một số sâu bệnh hại chính trên cây sâm Bố Chính bao gồm: bệnh lở cổ rễ, bệnh thối gốc thân, sâu cuốn lá, rệp bông trắng, rầy mềm.
Cây có khả năng chịu hạn tốt, tuy nhiên rất mẫn cảm với điều kiện ngập úng. và bệnh thối củ do nấm Fusarium spp. Một số tác nhân gây bệnh hại vùng gốc, rễ Các bệnh thối rễ và thân do tác nhân gây bệnh tồn tại trong đất là nguyên nhân gây thiệt hại năng suất nghiêm trọng cho cây trồng ở Việt Nam. Tính chất trồng trọt quanh năm tại các vùng châu thổ Việt Nam, sự lan truyền của các tác nhân gây bệnh trong nước tưới, thoát nước kém, cây giống không sạch bệnh và khí hậu nhiệt đới là những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh này.
Bệnh do các tác nhân có nguồn gốc từ đất gây ra các triệu chứng không điển hình, như còi cọc, vàng lá, héo và chết cây (Burgess L., 2009) Nấm Rhizoctonia sp Theo Bruce A. Williamson-Benavides and Amit Dhingra (2021) Các triệu chứng của R. solani khác nhau giữa các loài, nhưng nó chủ yếu ảnh hưởng tới các bộ phận dưới lòng đất (hạt, lá mầm và rễ); tuy nhiên, nó cũng có thể lây nhiễm sang các bộ phận của cây trên mặt đất chẳng hạn như vỏ, quả, lá và thân. Triệu chứng chung của R.
solani là cây con sống sót thường có thể phát triển vết 5 bệnh trên thân và rễ màu nâu đỏ. Mầm bệnh này đôi khi có thể lây nhiễm sang trái và lá mô gần hoặc trên bề mặt đất. solani là nguyên nhân gây ra tổn thất năng suất cao trong nhiều loại cây trồng. Nấm Fusarium spp.
Williamson-Benavides and Amit Dhingra (2021) Chi Fusarium tạo thành một nhóm đơn ngành khá lớn gồm vài trăm các loài bao gồm các mầm bệnh thực vật quan trọng trong nông nghiệp, endophytes, hoại sinh… Các loài Fusarium quan trọng nhất gây thối rễ là F. solani, Fusarium spp khác. có thể gây thối rễ là: F. Các loài Fusarium spp.