Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu rèn luyện kĩ năng HTHKT 1. Trên thế giới Trên thế giới, vấn đề HTHKT được một số tác giả nghiên cứu như sau: Năm 1968, nhà sinh học L. Bertalanffy đã đưa ra “Lý thuyết chung của các hệ thống” để mô tả các hệ thống mở và các trạng thái cân bằng động.
Tác giả đã cho rằng quan điểm hệ thống đặt mọi sự vật, hiện tượng trong hệ thống đang vận động không ngừng và luôn tự đổi mới, giúp ta hiểu sự vật đúng hơn, điều khiển vận động theo những quy luật vốn có của nó [22].Iacôlep đã nghiên cứu về “Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong nhà trường phổ thông”. Trong đó các tác giả cho rằng việc ôn tập là một trong những việc học tập cơ bản, nếu thiếu nó người học khó đạt tới sự thành công trong học tập. Cần phải có một hệ thống ôn tập để phát triển những khái niệm cơ bản [11].Ornstein và Thomas J.Lasley với tác phẩm “Các chiến lược để dạy học có hiệu quả”. Các tác giả này đã xây dựng kế hoạch bài học về các kĩ năng tư duy, trong đó nhấn mạnh chủ đề phân loại thông tin dựa trên đặc tính chung hay tương tự [1].
Năm 1998, Geoffrey Petty khi đề cập đến cách dạy học ngày nay, tác giả đã cho rằng một trong các phương pháp dạy học tích cực là dạy cho HS cách nhớ, qua đó rèn luyện cho HS kĩ năng ôn tập [21]. HTHKT được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau: Lập bảng, vẽ sơ đồ grap, sơ đồ tư duy Mind Map, bản đồ khái niệm, sơ đồ hình, đồ thị,. 6 Năm 1942, Tony Buzan là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (bản đồ tư duy). Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới.
Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mind Map [16]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, HTHKT đã được một số tác giả nghiên cứu như sau: Năm 1996, Nguyễn Kì trong cuốn “Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm” tác giả đã xem HTH như là một biện pháp hữu hiệu để thực hiện dạy học theo phương pháp tích cực [9]. Năm 1996, Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành trong cuốn “Lí luận dạy học sinh học” tác giả đã khẳng định HTHKT là một trong các biện pháp học tập trong dạy học SH, đưa ra phương pháp dạy bài ôn tập tổng kết theo hình thức HTH [2]. Năm 2005, Ngô Văn Hưng trong cuốn “Dạy học sinh học 9” tác giả đã phân tích kĩ năng HTH và minh họa bằng nhiều sơ đồ khái niệm, bảng tổng kết, hình ảnh HTH, câu hỏi khái quát hóa theo kĩ năng HTH [6].
Năm 2008, Ngô Văn Hưng đã nghiên cứu về “Các biện pháp rèn luyện HS kĩ năng HTHKT trong dạy học sinh học 9” tác giả đã rèn luyện kĩ năng HTHKT cho HS thông qua việc HS trả lời các câu hỏi hay làm các bài tập trong quá trình học tập môn SH 9 [7]. Trong dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng việc xây dựng sơ đồ, bảng hệ thống,. để vừa HTHKT, vừa như là một biện pháp dạy học phát triển tư duy logic cho HS. Ví dụ như một số công trình nghiên cứu: Năm 1971, Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên đã nghiên cứu chuyển hóa Graph toán học thành Grap dạy học và đã công bố nhiều công trình trong lĩnh vực này [13], [14], [15].
Năm 2005, Nguyễn Phúc Chỉnh đã nghiên cứu vấn đề “Nâng cao hiệu quả dạy học Giải phẫu - Sinh lí người ở trung học cơ sở bằng phương pháp grap”. 7 Tác giả nghiên cứu một cách hệ thống về lí thuyết Graph trong dạy học Giải phẫu - Sinh lí người [3]. Từ tổng quan các tài liệu trên cho thấy việc nghiên cứu về lí thuyết hệ thống, HTH, kĩ năng HTHKT được rất nhiều tác giả quan tâm. Điều đó cho thấy việc rèn luyện kĩ năng HTHKT cho HS trong dạy học phần SH VSV (SH 10 THPT) là rất cần thiết.
Cơ sở lí luận của đề tài 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Hệ thống Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hệ thống. Theo quan điểm triết học thì: Hệ thống là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một chỉnh thể trọn vẹn và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, chúng tạo nên những thuộc tính mới, các thuộc tính mới này không có ở những yếu tố cấu trúc.
Mỗi yếu tố trong hệ thống lớn lại được tạo nên bởi những yếu tố nhỏ hơn. Như vậy, mỗi hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống con tạo nên các cấp độ thứ bậc khác nhau. Năm 1987, Hoàng Tụy đưa ra khái niệm: “Hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ, tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp” [17]. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên nêu khái niệm: Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất [12].
Như vậy hệ thống có thể được định nghĩa một cách khái quát như sau: Hệ thống là tập hợp những yếu tố, những bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau và tạo thành một chỉnh thể nhất định. Hệ thống hóa kiến thức Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên nêu khái niệm hệ thống hóa có nghĩa là “Làm cho trở nên có hệ thống” [12]. Từ điển thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, khi là một danh từ “Hệ thống” có nghĩa: Tập hợp nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ trong một chỉnh thể (Ví dụ: Hệ thống tổ chức); khi là một động từ thì “Hệ thống hóa” có nghĩa: Làm cho có hệ thống (ví dụ: Hệ thống lại các phần đã trình bày) [20]. Hệ thống hóa kiến thức là một quá trình thực hiện các thao tác logic để sắp xếp kiến thức vào một hệ thống nhất định.
Việc hệ thống hóa kiến thức phải dựa trên các dạng quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nội dung, có thể diễn đạt bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau: Bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, phim,. Kĩ năng Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [12]. Theo từ điển Oxford “Kĩ năng là khả năng làm tốt việc gì đó” [23]. Theo từ điển American Heritage thì kĩ năng là sự thành thạo, sự khéo léo có được qua đào tạo hay qua tích lũy kinh nghiệm [24].
Kharlamop (1978) “Kĩ năng là năng lực của học sinh có thể hoàn thành những hành động nào đó gắn liền với việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn”. Còn “kĩ xảo được coi là kĩ năng thành thạo, đạt tới mức tự động hóa và đặc trưng bởi một trình độ hoàn hảo nhất định” [8]. Theo quan điểm Giáo dục học thì kĩ năng được chia thành 2 bậc: Kĩ năng bậc I và kĩ năng bậc II. Kĩ năng bậc I là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.
Kĩ năng bậc II là khả năng thực hiện hành động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu trong các điều kiện khác nhau [18]. 9 Như vậy, có thể thấy những quan niệm về kĩ năng là rất đa dạng, nhưng thực chất các quan niệm này không mâu thuẫn nhau, sự khác nhau ở đây là do việc mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kĩ năng. Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức Là khả năng phân tích và sắp xếp một cách logic các yếu tố, các nội dung thông tin về đối tượng, hiện tượng theo một quan điểm nhất định nhờ đó cho chủ thể nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về đối tượng đó. Vai trò của việc rèn luyện kĩ năng HTHKT cho HS trong dạy học sinh học nói chung và dạy học phần sinh học vi sinh vật (SH 10 THPT) nói riêng Trong dạy học, việc HTHKT được sử dụng để GV hệ thống một nội dung nào đó.
Đồng thời, GV cho HS nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những thông tin đọc được, xử lí tài liệu đó theo một hướng nhất định để rút ra những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật hiện tượng. Như vậy, HTHKT không chỉ giúp HS hình thành được kiến thức mới, củng cố những điều đã học, sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, mà còn chỉ ra mối liên hệ giữa các nội dung kiến thức trong mỗi bài học theo một lược đồ nhất định nhằm cho HS ghi nhớ và hiểu bài học tốt hơn. Ngoài ra, việc rèn luyện kĩ năng HTHKT trong dạy học có vị trí quan trọng trong phát triển năng lực tư duy lí thuyết cho HS. Điều này thể hiện rõ qua ưu điểm của việc HTHKT trong quá trình dạy học: - Khi ghi chép thông tin dưới dạng HTHKT tiết kiệm được 50 - 95 % thời gian học tập [16].
- Khi đọc thông tin và ôn bài mà bài học được lưu dưới dạng HTHKT tiết kiệm được hơn 90% thời gian học tập [16]. - Qua việc HTHKT, HS biết cách đối chiếu, so sánh sự vật hiện tượng để tìm ra quy luật, rút ra kết luận. - Rèn luyện kĩ năng đọc tóm tắt tìm ra ý chính, cơ bản, cốt lõi nhất trong tài liệu. 10 Việc HTHKT đòi hỏi HS khả năng tư duy và có trình độ hiểu biết nhất định về kiến thức đó.
Ngoài việc giúp HS ôn tập thì HTHKT còn kiểm tra được trình độ, khả năng tư duy của người học khi GV yêu cầu HS tự HTHKT một phạm vi kiến thức nào đó. Các nhóm kĩ năng HTHKT cần hình thành trong quá trình dạy học 1. Kĩ năng xác định mục tiêu HTHKT Kĩ năng xác định mục tiêu HTHKT nghĩa là: HTH cần đạt mục tiêu gì? HTH những nội dung nào? HTH nội dung trong một mục, một bài, một chương, một phần, hay toàn bộ chương trình? 1.