ĐẶT VẤN ĐỀ Để đối phó với thực trạng chất thải rắn sinh hoạt hàng ngày càng gia tăng về khối lƣợng, sự quá tải của các cơ sở xử lý và bãi chôn lấp, các nhà nghiên cứu đã không ngừng tìm ra các giải pháp công nghệ nhằm xử lý chất thải rắn một cách hiệu quả. Công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng ruồi Lính Đen (Hermetia Illucens) là một công nghệ mới đang đƣợc áp dụng ở nhiều nơi, mang lại hiệu quả kinh tế và có ý nghĩa trong việc cải thiện môi trƣờng. Ruồi Lính Đen đang đƣợc quan tâm rộng rãi trên thế giới về tính ứng dụng của chúng. Ruồi Lính Đen đƣợc sử dụng trong xử lý môi trƣờng bởi khả năng tiêu hóa các chất hữu cơ nhƣ phân gia súc, gia cầm, phế phẩm trong chế biến thủy sản và nông sản, chất thải hữu cơ trong sinh hoạt của con ngƣời.
tạo ra chất mùn sử dụng cho cây trồng. Ruồi Lính Đen với hàm lƣợng protein cao từ 36- 48%, chất béo từ 31 - 33% là nguồn thức ăn lý tƣởng cho cá, lợn, gà. chính vì vậy sử dụng ruồi Lính Đen sẽ là hƣớng đi mới trong việc tìm ra đƣợc biện pháp làm giảm tối thiểu lƣợng chất thải rắn hữu cơ đƣợc thải ra môi trƣờng, đồng thời mang lại giá trị kinh tế cho ngƣời dân. Yêu cầu của thực tiễn hiện nay là cần tìm ra một phƣơng pháp nhân nuôi ruồi Lính Đen hiệu quả tạo ra số lƣợng lớn ruồi Lính Đen phục vụ cho hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị trấn Xuân Mai.
Xuất phát từ lí do đó, tác giả đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số phương pháp nhân nuôi ruồi Lính Đen (Hermetia Illucens) phục vụ hoạt động xử lý chất thải rắn hữu cơ tại thị trấn Xuân Mai - huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho việc nhân nuôi ruồi Lính Đen phục vụ công tác xử lý lƣợng chất thải rắn hữu cơ, giảm đáng kể đƣợc ảnh hƣởng của chất thải sinh hoạt đến môi trƣờng tại khu vực nghiên cứu. 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn sinh hoạt 1.
Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời (Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP). Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là các loại chất thải liên quan tới hoạt động sống của con ngƣời. Nguồn gốc chủ yếu từ các khu dân cƣ, trung tâm thƣơng mại, công sở, trƣờng học, công trình công cộng, các dịch vụ đô thị, sân bay. CTRSH gồm các loại nhƣ sau: Chất thải thực phẩm (thức ăn thừa, rau, quả.) có đặc tính là dễ phân hủy sinh học; Phân ngƣời, động vật, bùn hố ga, cống rãnh.; Tro của các vật liệu sau khi đốt cháy (xỉ than); Các chất thải rắn của đƣờng phố (lá cây, que, bao nilon, vỏ chai, vỏ bao gói); 1.
Giảm thiểu, phân loại, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn sinh hoạt Giảm thiểu lƣợng chất thải rắn (CTR) thông qua việc thay đổi lối sống hoặc cách tiêu dùng, cải tiến quy trình sản xuất, mua bán sạch… Ngoài ra, giảm thiểu CTR đƣợc thực hiện thông qua hoạt động tái sử dụng. Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã đƣợc phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau (Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP). Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải (Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP). Tái sử dụng chất thải rắn có thể là tái sử dụng tại chỗ hoặc thông qua hoạt động thƣơng mại hoặc cộng đồng.
Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải (Nghị định số: 38/2015/NĐ- CP). Tái chế là hoạt động ƣu tiên của công tác quản lý CTR sau giảm thiểu và tái sử dụng. 2 Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế góp phần ngăn ngừa các vấn đề suy thoái môi trƣờng, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm chi phí thu gom và xử lý chất thải, giảm đƣợc quỹ đất dành ra cho việc chôn lấp. Tuy nhiên, giảm thiểu, phân loại, tái sử dung và tái chế có những khó khăn nhất định.
Công tác phân loại CTRSH còn gặp rất nhiều khó khăn, phân loại theo mục đích sử dụng, theo tính chất chất thải, theo khối lƣợng riêng… để làm đƣợc điều đó cần rất nhiều công sức cho phƣơng pháp thủ công trong việc phân loại rác. Một số phƣơng pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, thiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải (Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP). Xử lý chất thải là dùng biện pháp kĩ thuật để xử lý các chất thải rắn và không làm ảnh hƣởng tới môi trƣờng, tái tạo lại những sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát triển kinh tế. Xử lý CTR quyết định đến yếu tố môi trƣờng trong tƣơng lai.
Tại Việt Nam đã sử dụng nhiều công nghệ kĩ thuật để xử lý CTRSH. Xử lý bằng phương pháp cơ học Phƣơng pháp cơ học bao gồm nhiều phƣơng pháp khác nhau: tách, phân loại chất thải rắn; làm khô bùn bổ phốt (sơ chế); đốt chất thải không có thu hồi nhiệt; Lọc, tạo rắn với chất thải bán lỏng. Giảm thể tích chất thải rắn bằng phƣơng pháp cơ học bằng các thiết bị nén ép cố định tại khu dân cƣ, khu công nghiệp nhẹ hay khu thƣơng mại, khu công nghiệp nặng và trạm trung chuyển, giảm thể tích bằng thiết bị nén ép di động sử dụng cho các xe trung chuyển khối lƣợng lớn, xe contenơ, thùng chứa đặc biệt. Phƣơng pháp cơ học là phƣơng pháp phổ biến giúp giảm thể tích, tăng khối lƣợng riêng của rác thải khi mang đi chôn lấp, giúp hạn chế tối đa diện tích của bãi chôn lấp.
3 Tuy nhiên, xử lý rác thải bằng phƣơng pháp cơ học còn gặp một số khó khăn. Không xử lý đƣợc triệt để thành phần, các tính chất độc hại có trong rác thải. Đòi hỏi phải có quá trình sàng lọc phân loại đƣợc tại nguồn. Xử lý bằng phương pháp sinh học Ủ sinh học là quá trình biến đổi sinh hóa các chất hữu cơ tạo thành mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học nhằm tạo ra môi trƣờng tối ƣu với quá trình sản xuất.
Quá trình ủ đƣợc áp dụng với chất hữu cơ không độc hại. Hai yếu tố nhiệt độ và độ ẩm giữ vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình biến đổi. Bao gồm có hai loại ủ phân: ủ hiếu khí và ủ kị khí (Nguyễn Thị Bích Hảo, 2010). Xử lý chất thải bằng phƣơng pháp sinh học làm hạn chế lƣợng chất thải cần đƣợc chôn lấp, đồng thời tạo đƣợc sản phẩm cho xã hội, hiếu khí tạo ra mùn/phân hữu cơ dùng trong nông nghiệp; kị khí sinh ra CH4 dùng cho sinh hoạt.
Tuy nhiên, phƣơng pháp sinh học còn gặp một số khó khăn nhƣ: chất lƣợng phân có nguồn gốc từ chất thải sinh hoạt không ổn định, tốn nhiều diện tích, có thể tạo ra nƣớc thải, khí rác gây ô nhiễm cục bộ. Xử lý bằng phương pháp đốt Thiêu đốt là quá trình xử lý chất thải ở nhiệt độ cao. Thiêu đốt ở nhiệt độ cao chất thải đƣợc xử lý triệt để, đảm bảo loại trừ các độc tính, có thể giảm thiểu thể tích rác đến 90 - 95% và tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh. Thiêu đốt đƣợc áp dụng cho các loại rác có tính chất độc hại, chất khó có khả năng phân hủy sinh học.
Xử lý chất thải bằng phƣơng pháp đốt có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng, giảm tới mức nhỏ nhất lƣợng chất thải rắn cho khâu xử lý cuối cùng, xử lý đƣợc triệt để các chỉ tiêu môi trƣờng nhƣ đối với chất thải của bệnh viện, thuốc bảo vệ thực vật. Năng lƣợng phát sinh có thể tận dụng đốt cho hoạt động của lò hơi, lò sƣởi, các cơ sở sản xuất sử dụng nhiệt và phát nhiệt. Xử lý chất thải bằng phƣơng pháp đốt còn gặp một số khó khăn. Chi phí đầu tƣ và bảo trì tốn kém nhất so với các phƣơng pháp còn lại, so với bãi chôn 4 lấp hợp vệ sinh thì chi phí để đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần.
Gây ra vấn đề môi trƣờng nghiêm trọng, đặc biệt là môi trƣờng không khí, nếu sản phẩm khí đầu ra không đƣợc xử lý thích đáng. Xử lý bằng phương pháp chôn lấp Việc chôn lấp đƣợc thực hiện sau một quá trình thu gom và vận chuyển với nhiều công đoạn thu gom rác trƣớc khi mang về bãi đã đƣợc xây dựng. Phƣơng pháp này cần phải đƣợc bổ xung các chế phẩm sinh học nhất định đáp ứng đƣợc vệ sinh cho môi trƣờng xung quanh bãi chôn lấp. Các bãi chôn lấp phải cách xa khu dân cƣ có lớp chống thấm bằng màng địa chất ở khu vực bãi chôn lấp cần có thiết bị thu gom và xử lý nƣớc rỉ rác trƣớc khi thải ra môi trƣờng.
Xử lý bằng phƣơng pháp chôn lấp có công nghệ đơn giản, rẻ và dễ dàng áp dụng cho nhiều loại rác. Chi phí cho các bãi chôn lấp thấp. Tuy nhiên xử lý bằng phƣơng pháp chôn lấp còn một số khó khăn. Chiếm diện tích đất tƣơng đối lớn, tìm kiếm đƣợc địa điểm xây dựng bãi chôn lấp là việc làm khó.
Không đƣợc sự đồng tình của khu vực dân cƣ xung quanh. Có nguy cơ dẫn tới làm ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí gây cháy nổ. Những tồn tại trong công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt Lƣợng CTRSH trên địa bàn ngày càng tăng trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng xử lý CTRSH chƣa thể đáp ứng yêu cầu thực tế. Nhận thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, ngƣời dân, tổ chức còn hạn chế.
Nguồn kinh phí đầu tƣ cho sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng, nhất là đầu tƣ cho lĩnh vực thu gom, xử lý rác thải vẫn chƣa đáp ứng đƣợc so với nhu cầu thực tế, cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ xử lý CTRSH chƣa đƣợc đầu tƣ xây dựng đồng bộ.