Tài liệu Kỹ thuật: Nghiên cứu một số giải pháp xây dựng vườn giống que

Nghiên cứu giải pháp xây dựng vườn giống que Cinnamomum cassia Blume tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đần huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2007

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về cây Quế và vườn giống

Cây Quế (Cinnamomum cassia Blume.) là một loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao, được gây trồng rộng rãi ở nhiều địa phương Việt Nam. Sản phẩm chính từ cây Quế là vỏ quế - một hàng hoá có giá trị cao trên thị trường trong nước và quốc tế. Vỏ quế được sử dụng làm nguyên liệu chế biến gia vị thực phẩm, chưng cất tinh dầu và sản xuất thuốc chữa bệnh. Xây dựng vườn giống Quế là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện chất lượng giống, đáp ứng nhu cầu thị trường và phát triển bền vững ngành lâm nghiệp. Tỉnh Thanh Hoá, đặc biệt huyện Thường Xuân, là trung tâm trồng Quế lớn nhất ở Việt Nam với điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi.

1.1. Đặc điểm sinh học và sinh thái của cây Quế

Cây Quế có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại đất, đặc biệt là những vùng có độ cao từ 300-800m. Đặc tính sinh thái của Quế cho phép nó phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới. Cây có chu kỳ sinh trưởng không quá dài, từ 5-7 năm có thể bắt đầu thu hoạch vỏ. Đây là lợi thế về kinh tế so với các loài cây gỗ khác.

1.2. Vai trò kinh tế và môi trường của vườn giống

Vườn giống Quế đóng vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất nông lâm nghiệp. Nó cung cấp cây giống chất lượng cao, đảm bảo tính thuần chủng và năng suất. Ngoài giá trị kinh tế, Quế còn có tác dụng phòng hộ đất, bảo vệ rừng tự nhiên, góp phần phát triển bền vững theo chương trình trồng 5 triệu hectare rừng của Chính phủ.

II. Quy trình xây dựng và quản lý vườn giống Quế

Xây dựng vườn giống Quế đòi hỏi tuân thủ các quy trình kỹ thuật chặt chẽ từ khâu lựa chọn địa điểm đến chăm sóc cây trồng. Vườn giống cần được đặt ở vị trí có điều kiện đất đai tốt, nước tưới đủ và ánh sáng phù hợp. Tiêu chí chọn cây trội dựa trên những cây có năng suất vỏ cao, vóc dáng đẹp, không bệnh tật. Công tác quản lý bao gồm chuẩn bị đất, khoảng cách trồng hợp lý, tưới nước, bón phân và phòng chống sâu bệnh. Việc ghi chép, theo dõi sinh trưởng của cây trồng là yêu cầu bắt buộc để đánh giá hiệu quả.

2.1. Lựa chọn địa điểm và chuẩn bị đất

Địa điểm xây dựng vườn giống Quế phải đáp ứng các tiêu chuẩn: độ cao 300-800m, độ dốc không quá 15%, đất tốt chứa đủ chất hữu cơ. Chuẩn bị đất bằng cách xới sâu, tạo luống cao 30-40cm, bổ sung phân hữu cơ 10-15 tấn/ha. Hệ thống tưới tiêu phải đảm bảo cân bằng độ ẩm, tránh tình trạng quá ẩm hoặc khô hạn.

2.2. Tiêu chuẩn chọn cây trội và khoảng cách trồng

Cây trội Quế được chọn dựa trên tiêu chí: tuổi cây 5-7 năm, đường kính thân trên 10cm, năng suất vỏ cao trên 50kg cây/năm. Khoảng cách trồng vườn giống thường là 3m × 3m hoặc 2,5m × 3m để đảm bảo không gian phát triển. Mật độ cây phù hợp giúp giảm cạnh tranh, tăng chất lượng cây giống.

III. Kỹ thuật chăm sóc và phát triển vườn giống

Chăm sóc vườn giống Quế là công tác thiết yếu quyết định thành công của dự án. Công tác bón phân cần thực hiện định kỳ, sử dụng phân hữu cơ kết hợp với phân hoá học. Tưới nước đặc biệt quan trọng trong mùa khô, đảm bảo cây không bị stress nước. Phòng chống sâu bệnh phải được thực hiện sớm, sử dụng các biện pháp sinh học và hóa học an toàn. Cắt tỉa thường xuyên để định hình cây, khuyến khích phát triển các cành chính có chất lượng. Ghi chép liên tục các chỉ tiêu sinh trưởng giúp đánh giá hiệu quả kỹ thuật.

3.1. Bón phân và quản lý dinh dưỡng

Bón phân vườn giống Quế 3-4 lần/năm với liều lượng: 15-20kg phân bò hoai mục, 0,5kg phân bóp hoặc 0,3kg NPK 16-16-8 mỗi cây mỗi lần. Bón phân sau tưới nước, thực hiện vào đầu mùa mưa hoặc mùa khô. Theo dõi tình trạng lá để điều chỉnh liều lượng phân hợp lý.

3.2. Quản lý nước và phòng chống bệnh

Tưới nước vườn giống 2-3 lần/tuần trong mùa khô, đảm bảo đất ẩm 60-70%. Phòng chống bệnh nấm, côn trùng bằng cách vệ sinh vườn, cắt bỏ cành bị bệnh, sử dụng thuốc sinh học hoặc hóa học an toàn. Kiểm tra định kỳ, ghi chép những dấu hiệu bệnh để can thiệp kịp thời.

IV. Hiệu quả và khuyến nghị phát triển vườn giống Quế

Các nghiên cứu thực tế tại vườn giống Quế ở Thường Xuân, Thanh Hoá cho thấy hiệu quả đáng khích lệ. Cây trồng đạt sinh trưởng tốt với đường kính thân tăng 3-5cm/năm, chiều cao 4-6m sau 5 năm. Năng suất vỏ đạt 40-60kg cây/năm, chất lượng vỏ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Phương pháp xây dựng vườn giống này có thể áp dụng cho các địa phương khác có điều kiện tương tự. Khuyến nghị cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực, hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật và xây dựng chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm Quế bền vững.

4.1. Kết quả thực hiện vườn giống Quế tại Thanh Hoá

Vườn giống Quế tại Ban quản lý rừng phòng hộ sông Đằn đạt kết quả: cây sống trên 95%, sinh trưởng đạt 0,8-1,0cm đường kính thân/năm. Chất lượng cây giống được cải thiện, giống có khả năng thích nghi cao với vùng đông bắc Thanh Hoá. Năng suất vỏ tại vườn giống cao hơn 15-20% so với rừng trồng truyền thống.

4.2. Hướng phát triển và khuyến nghị áp dụng rộng rãi

Phát triển vườn giống Quế cần tập trung: hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật, đào tạo cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp, hỗ trợ vốn cho nông dân. Khuyến nghị sử dụng mô hình vườn giống Quế này tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm Quế từ trồng - chế biến - xuất khẩu, đảm bảo lợi ích bền vững cho cộng đồng.

18/12/2025
Nghiên cứu một số giải pháp xây dựng vườn giống que cinnamomum cassia blume tai ban quan ly rung phòng hộ song đần huyện thường xuân tỉnh thanh hoá

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về Quế. TT nể nổi ca cseeseseninoseesaseasSeeassijieddiisgasee Kẻ Ae). “THONG (essenisseeeaissodebienoaiooukeeses đ=: {Hai ˆ a 1. Công dụng và vị trí phân loại của cây Q ¬ Thẻ ease 1.

Dac tinh sinh vat hoc, sinh thai hoc va ky thuat gay trồng Qué. Nghiên cứu về sinh trưởng và sản “Ân, Quế. Hàm lượng tinh dầu Quế và thị trường tiêu thụ vò Quế š6cš6c0g69g#8) 8 2.2: So sán sự thuần nhất của hai mô hình rừng trồng về các chỉ trưởng Dis Dy H,, va d6 day vỏ tại vi tri 1,3m. 14 ` sánh sự thuân nhất về các chỉ tiêu sinh trưởng trong cùng _ một mô hình rừng trồng tại 3 vị trí khác nhau.

ccnnasrnnitii ei eee 17 nghiên cứu và thảo luận.---- -- --‹+‹+-s-e+ 19 lề cứu cá cđiều kiện cơ bản và đặc điểm của Quế. 19 KP TL raaeeeeeeeeiceneeeeoeeooeoenoesnneeenes 19 3. Kỹ thuật trồng rừng Quế dang áp dụng ở địa phương. Một số dẫn liệu cơ bản về cây Quế.

Nghiên cứu xác định các tiêu chuẩn chọn cây trội. Nghiên cứu thông tin từ người sử dụng. Biến dị của Quế tại khu vực điều tra. Boe Thường thức trồng vườn giống.

Đề xuất các giải pháp kỹ thuật xây dựng I3. KD HÿHÌ¿zscsccoceŸco —-<‹. Tài liệu tham khảo SE Feˆ 5.U2/56 CO TVWC ĐẶT VAN DE La loài cây bản địa có nhiều công dụng, trong những năm gần đây, Quế (Cinnamomum cassia Blume.) đã được gây trồng rộng rất ở nhiều địa phương trong cả nước. Ở nước ta, Quế là cây phân bố tự z=.

rừng và được nhân dân gây trồng trên một số vùng thuộc các tỉnh miễn TYúng và miền Bắc Việt Nam. Với giá trị kinh tế cao, dễ gây trồnế và chà kỳ kinh doanh không quá dài như một số loài cây gỗ khác, Quế đã thu hút đQossự chú ý không chỉ của các nhà kinh doanh, của người nông dân mà còn cả các nhà khoa học. Sản phẩm chính từ cây Quế là vỏ qu é - mộ :loại hàng hoá có giá trị cao ở cả thị trường trong nước và nước ngoài. Tại các thị trường này, vỏ Quế được sử dụng làm nguyên liệu để chế biến cán phụ gia thực phẩm và chưng cất tinh dau dùng chế biến thuốc chữa bệ 1.

Ngoài giá trị kinh tế, Quế còn là cây bản địa phát triển rất tốt nên có thể trồng phòng hộ. Trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng từ năm 1998 đến năm 2010 của Chính phủ, cây Quế được đặc biệt chú ý. Vì vậy trên thực tế, Quế là một trồng những loài cây trồng có vị trí quan trọng và triển "Ác 2< rất lớn ở nhiều địa phương trong cả nước. Tỉnh Thanh Hoá là một trong offing trung tâm trồng Quế lớn nhất ở nước ta.

Tại Thường Xuâ y- hanh Hoá; Quế được Ban quản lý rừng phòng hộ sông Đằn và nhân dân địa phương gây trồng thành các vườn Quế và rừng Quế. Để phát húy thế mạnh của loài cây đặc sản này đồng thời đáp ứng đây đủ nhu cầu thị trường rong nước cũng như xuất khẩu, Bộ NN&PTNT đã có chủ trương ty dung \ ờn giống Quế tại Thường Xuân - Thanh Hoá nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng giống cho loài cây này. Mặt khác đây là lần đầu ` at tiên ở.Vi¿ Namth ¡e hiện chương trình xây dựng vườn giống cho loài Quế hông tín ky thuật xây dung cho loài cây này chưa có nhiều, hơn nữa, tực gr ư Ốc hiện nay đã có nhiều cây Quế trội được chọn nhưng còn chưa 'Ei⁄: Xuất phát từ thực tiễn nêu trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp xây dựng vườn giống Quế (Cinnamomum cassia Blume.) tại Ban quản lý rừng phòng hộ sông Đần - Huyện Thường Xuân - Tỉnh Thanh Hoá”. Nhằm cung cấp các thông tin có liên quan đến tiêu c ọn cay Qué trội theo sản lượng vỏ, số lượng cây trội có thể chọn để trồng gi va kỹ thuật gây trồng vườn giống cho loài cây này ở Th oa.

Chuong 1 TONG QUAN CAC NGHIEN CUU VE QUE 1. Trên thế giới | Năm 1928, J. Lan trong tác phẩm “Cây trồn biến ở Đông Dương”, tại phần nghiên cứu cây thực phẩm Hà Nội đã đề cap 8En a Theo tác giả thì Quế được sử dụng từ thời của người. Hers, 12 Những người thời cổ đã dùng Quế từ những người E ro nésiér gt lấy từ vùng trung tâm Châu Á.

Cho đến năm 1770 người ta vẫn chỉ thu hái m4 các cây Quế mọc hoang đại trong rừng. Mãi đến năm 1896 những cây Quế mới được gieo trồng và đạt kết quả tốt. Như vậy Quế E được gây trồng. từ trên 100 năm trở lại đây và đã đem lại nhiều lợi ích ch con người Tác giả đã phân loại Quế ra 3 loài chủ yếu đó là: / ~y - Cinnamomum zeylanium (Qué Xay Lan) - Cinnamomum loureirii Nees (Qué Viét Naw) - Cinnamomum cassia (Qué Trung Hoa Se oon a ee eaten Nam 1954, trong tac Rig ye cho người” Sery.W đã viết: Dầu eet Cassia (Quế Trung Quốc) là một loạidâu quý lấy từ thân cây Cinnamomum iee cassia ở châu Á trong no (Lairaceae).P khizs Long não cũng đã đề cập đến cây Quế Trung el rhNt Quốc cna m Chinese Blume) phân bốở vùng nhiệt đới châu Á, được sử dụng làm gia es lam thuốc > a Theo tin trêT mạng Internet, đến tháng l2 năm 2000 có 20400 tài liệu dé cap đến cáy Quế Trung Quốc (Chinese Cinnamon), 1070 tài liệu nói VỀ ( sây.Ó \ š Việt Nam (Vietnamese Cinnamon) va 1270 tai liéu dé cap dén cây / Qué > ay @ ti Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều lĩnh vực như; phân ]Øại, vùng phân bố, sản lượng vỏ tỉnh dâu và giá trị kinh tế.

Nhưng chưa tha côi g.ltìr nào dé cập đến việc đề xuất để đưa ra các giải pháp kỹ thuật cho Wie xa dung vườn giống Quế cũng như thực hiện xây dựng vườn giống Quế. Năm 1981, Nguyễn Hải Khoát đã giới thiệu khái quát về Quế trên thị trường quốc tế, tác giả cho biết ở phương Tây Quế là một trong những loại gia dau xoa bóp. Sản phẩm khác của Quế như tinh dầu, bot. Que d ưỢC SỬ dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, làm bánh kẹo, đồ18 usa Bao cấp.

Sản luong Qué (Cinnamomum cassia Blume. y' say 2 trung ở Inđônêxia, Việt Nam, Trung Quốc v. Quế ((Wize yla xuất hàng năm khoảng 6.000 tấn/năm, tập trung I iéu ở Sri aes | Nhìn chung nghiên cứu về cây Quế tương đối nh lều nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào nghiên cứu giá trị dược liệu được lấy từ vỏ cây. Hiện nay trong thương mại quốc tế, Quế (Cinnamomum cassia Blume.) được ưa chuộng và tiêu thụ mạnh ở những nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Mehicô, Hà Lan.

Trong nước ~ Ớ Việt Nam, từ thế kỷ XIY, Tuệ Tĩnhca donning ghi chép ban đầu về đặc điểm cây Quế và công dụng làm thuốc của loài cây này. Tiếp theo đó, Lê Quý Đôn trong “Vân đài loại ngữ” và ¡ Nguyễn Trứ trong “Việt Nam thực vật học” cũng đã mô tả lại hình thái `: rất dụng của cây Quế. Trong bộ sách “VY tông tâm lĩnh” gồm 66 quyền ( -của HảiSn Lãn Ông (1721 - 1792) có nhiều bài thuốc sử c ung, vo8 Que Cũng (trong khoảng thời gian này, khi người Pháp đến Việt Nam, loanis de Loureiro (1730) đã mô tả 1.257 loài cây cỏ ở Nam Bộ trong ốn Flora Cochinehinensis va x4c định tên khoa học cho cây Quế là Laurus ci mum ‘Lour. Từ đó cho đến đầu thế kỷ XIX hầu như không có công trình nào abtien cứu thêm về cây Qué.

Từ os 1907 1914, phần lớn cây có Đông Dương đã được ghi chép lại | LÌIựC Vậ hi 46 s6 do Henri Lecomte lam chi bién (Flore generale de ie : ir e) < ñ giới “thiệu họ Lawraceae (tập V), trong đó có 2 loài Quế ở Việt Na Ci camgrauum cassia Blume va Cinnamomum zeylanium Nees. KE chit thang thông tin ban đầu này về cây Quế, đã có nhiều tác giả nghiên cứu bổ sung những hiểu biết mới về loài cây này ở các lĩnh vực khác nhau. Những người có công trong lĩnh vực này phải kể đến Đỗ Tất Lợi (1961, 1978), Lê Văn Giai (1961), Phó Đức Thanh (1944, 1965), Lê Khả Kế và cộng sự (1969, 1976), Vũ Đức Hiên (1968), Phạm Hoàng Hộ (1970 - | 2). Tuy nhiên, ở những công trình trên phần lớn các tác giả đều tập trung vào việc tmô tả hình thái, xác định một số đặc tính phân bố, công dụng của các bộ phận trên cây Quế và xác định vị trí phân loại của loài.

Từ My năm 1980 trở lại đây, có một số tác giả lại nghiên cứu theo hướng mẻ( 7 rộngg ving. trồng Quế, nghiên cứu về tỉnh dâu, về sản lượng vỏ Quếở các vùng và thi trường vỏ Quế trong cũng nhưở ngoài nước v. ` < Mặc dù công tác giống cây rừng ở nướcta 'bắt đẩu từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đã xy ‘dung duoc mét hé théng cac xi nghiệp và trung tâm giống ở một số vùngig trọng điểm, cung cấp được một số lượng hạt giống của một số loài quan trọng và phổ biến như: Thông, Mỡ, Bạch đàn, Keo, Tếch. phục vụ cho công tác trồngrung.

Tuy nhiên hiện nay nước ta chỉ có khoảng 2.000 ha rừng giống cho các oat "Thông Ba lá ở Lâm Đồng, Thông Nhựa ở Quảng Bình, _.0, MBS Phi Tho, 17 Bạch đàn ở Bình Định. và _ một số ít các vườn giống đực ic Xây dụng chỗ loài Thông, Mỡ, Bạch đàn. nhưng với điện tích nhỏ, chưa đáp ứng Và cung cấp đủ nguồn giống tốt để và ừ ng hiệp gy: Điển hình với loài Chế, là một loài để xây dựng vườn, giống c ho loài này. Chỉ từ khi thực hiện quyết định của Bộ NN&PTNT nht m phát triển các giống cây đặc sản trong nước thì chủ trương thực hiện xây dựn 2 vue giống Qué tại huyện Thường Xuân - Thanh Hoá mới thực sự được quan tâm.

wn là lần đầu tiên tại Việt Nam thực hiện dự án vụ trồng vườn Weng oli thuộc chủ yếu vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu còn phương pháp bố trí cây mẹ trong vườn giống có thể tham khảo các tài liệu có liên quan đã đề cập đến nội dung này như: Các thí nghiệm ngoài trời đối với cây rừng thường phải bố trí trên diện tích lớn ở ving: đôi i uti có điều kiệnhiệp địa khòng hoàn toàn đồng d ¬ do vậy nhất người ta đã chia khu thí nghiệm làm nhiều khối sao cho PIN thí nghiện trong khối có điều kiện đồng đều. Mục đích của thí nghiệm of được xác định rõ trước khi tiến hành theo một thiết kế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ