Phần mở đầu, Kết luận và Tài liện tham khảo, luận văn bao gồm 2 chƣơng và phần Phụ lục kèm theo. Chƣơng 1, với tiêu đề: CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ, nhằm nêu lên một cái nhìn chung về hệ thống trƣờng 3 cấp của nền cải lƣơng giáo dục chữ Hán 1906-1919 nói chung, cấp Tiểu học nói riêng, đồng thời bƣớc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu giới thiệu Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 về mặt văn bản học, làm cơ sở cho những phân tích của chƣơng sau. Chƣơng 2, với tiêu đề : MÔN QUỐC SỬ CỦA CẤP TIỂU HỌC THỂ HIỆN TRONG SÁCH “QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƢỢC BIÊN 国史小學略編”, nhằm phân tích các vấn đề về các nguyên tắc của biên soạn Quốc sử nhƣ là một môn học, các mục bài có tính dẫn nhập và các bảng biểu có tính hệ thống hóa về Quốc sử, hệ thống chƣơng, tiết và sơ bộ về tính chất lƣợc biên của Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 để qua đó làm rõ những nội dung chủ yếu của môn Quốc sử cho cấp Tiểu học nền cải lƣơng giáo dục chữ Hán 1906-1919. Phụ lục kèm theo luận văn này là nguyên văn chữ Hán và bản dịch Phần đầu và Quyển nhất của Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 ký hiệu A.1327 hiện đang lƣu trữ viện Viện nghiên cứu Hán Nôm.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ Chƣơng này nhằm nêu lên một cái nhìn chung về hệ thống trƣờng 3 cấp của nền cải lƣơng giáo dục chữ Hán 1906-1919 nói chung, cấp Tiểu học nói riêng, vị trí của môn Quốc sử trong cấp Tiểu học của chƣơng trình đó, đồng thời bƣớc đầu giới thiệu Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 về mặt văn bản học và kết cấu. CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN (1906-1919) 1. Chính sách cai trị về phƣơng diện giáo dục của thực dân Pháp sau 1884 Năm 1884 và các năm sau đó, đất nƣớc chúng ta có một số sự kiện chính yếu nhƣ sau: Hoà ƣớc Pa-tơ-nốt (Patennôtre)đƣợc ký vào năm 1884; cuộc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiến của vua Hàm Nghi và sau đó là phong trào Cần vƣơng (1885-1897) của văn thân yêu nƣớc theo đƣờng nho học kiểu cũ, trung quân, dựa trên đạo cƣơng thƣờng, nghĩa quân thần (…. Trƣớc tình hình đó, chính quyền thực dân với các tổng trú sứ và toàn quyền nhƣ Paul Bert (1886), De Lanessan (1891-1894) đã nghiêng về đƣờng lối mua chuộc nho sĩ, dùng triều đình Huế phục vụ cho các âm mƣu của chúng [lập Viện Hàn Lâm Bắc Kỳ, tiếp tục giữ nguyên khoa cử từ chƣơng, tiếp tục dùng chữ Hán trong hành chính, cung cấp tiền cho tu sửa đền miếu, tổ chức lễ bái trong các đền miếu.
Đƣờng lối cai trị có tính chất “association - hợp tác” ấy đã đƣợc áp dụng nhằm ổn định xã hội, dẹp yên phong trào Cần vƣơng. Bên cạnh chính sách thực dân “association - hợp tác” , chính quyền thực dân lại thực hiện cả chính sách đồng hoá (assimilation) nhằm Pháp hoá Việt Nam theo liều lƣợng và tiến trình phù hợp. Bên cạnh việc duy trì giáo dục khoa cử, thực dân Pháp lại mở hệ thống trƣờng Pháp Viêt. Ở Việt Nam lúc đó tồn tại hai loại giáo dục: a.
Hệ thống giáo dục khoa cử b. Hệ thống giáo dục Pháp Việt Hai hệ thống giáo dục này khác nhau về một loạt vấn đề. Hệ thống giáo dục khoa cử vốn là hệ thống giáo dục nho học, lấy thánh kinh hiền truyện làm đối tƣợng, lấy Hán văn làm ngôn ngữ, lấy Quốc Tử Giám là trƣờng trung tâm, lấy dân gian làm trƣờng thiên thành, lấy Hƣơng, Hội, Điện làm kỳ thi, lấy cử nghiệp (chọn ngƣời ra quan) làm mục đích. Hệ thống giáo dục Pháp Việt lấy khoa học châu Âu làm đối tƣợng, lấy Pháp ngữ làm mục đích, lấy quốc ngữ làm chuyển ngữ, lấy chia trƣờng làm cấp học (trƣờng sơ cấp - trƣờng tiểu học - trƣờng trung học).
Nền giáo dục ấy chia làm hai loại: giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Giáo dục phổ thông là giáo dục cho mọi ngƣời dân, cả nam cả nữ, với 3 cấp học (sơ cấp 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - tiểu học - trung học). Giáo dục chuyên nghiệp gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục cao đẳng - đại học theo từng chuyên môn. Dù trong hoàn cảnh của chế độ thực dân, nhƣng giáo dục trong hệ thống trƣờng Pháp-Việt là giáo dục hiện đại, là lối thoát, lối đi lên cho giáo dục bản xứ.
Hai loại giáo dục ấy khác nhau về chiều hƣớng phát triển. Sau Hoà ƣớc 1884, những kinh nghiệm trong việc giáo dục ở Nam Kỳ đã đƣợc áp dụng ở Bắc Kì và Trung Kì. Từ năm 1886, Paul Bert đã cho mở một hệ thống các trƣờng thuộc hệ thống giáo dục Pháp-Việt ở Hà Nội nhƣ: trƣờng thông ngôn, 9 trƣờng Tiểu học cho nam sinh, 4 trƣờng tiểu học cho nữ sinh, 2 trƣờng dạy nghề, 1 trƣờng dạy vẽ. nhƣ trên đây chúng tôi đã nêu.
Vào cuối thế kỷ XIX, hầu hết các tổng xã Nam Kì có trƣờng Tiểu học Pháp-Việt. Ở Bắc Kì và Trung Kì hệ thống trƣờng này còn ít. Năm 1900, Hà Nội: 15 trƣờng; Hải Phòng: 5 trƣờng; Nam Định: 4 trƣờng; Thanh Hoá: 2 trƣờng; Vinh: 3 trƣờng; Huế: 2 trƣờng. Hội An, Nha Trang mỗi nơi 1 trƣờng.
Ngày 27-4-1904, thực dân Pháp ra Nghị định thiết lập Chƣơng trình giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc Kì. Cần lƣu ý một đôi lời rằng, giáo dục Pháp-Việt đã khởi đầu từ năm 1867 ở sáu tỉnh Nam Kì. Học quốc ngữ và qua chuyển ngữ quốc ngữ ở đây để tiến tới Pháp hóa Pháp ngữ. Lúc đầu, loại trƣờng này bị tẩy chay.
Thực dân Pháp phải bắt ngƣời đi học, cấp tiền, cấp mọi vật liệu, sách vở cho ngƣời đi học, thuê tiền cho ngƣời đi học nhƣng vẫn chẳng có mấy ngƣời. Ngƣợc lại, trƣờng chữ nho, trƣờng của thầy đồ dù bị cấm đoán, hạn chế nhƣng lại đông ngƣời đến học vì đi học ở đây đƣợc coi là “giữ đạo nhà”. Trong khoảng gần 10 năm việc giáo dục ở Nam Kỳ lục tỉnh dùng dằng giữa hai loại trƣờng tây - trƣờng ta nhƣ thế. Nhƣng tình hình đã thay đổi từ năm 1874 khi Pháp thành lập cơ quan Học chính Nam Kì, đƣa ra quy chế giáo dục.
Thầy đồ muốn mở trƣờng phải xin phép chính quyền. Trƣờng thầy đồ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nếu dạy quốc ngữ và chữ Pháp sẽ đƣợc nhận tài trợ. Giáo dục gồm 2 cấp. Tiểu học và Trung học.
Tiểu học học các môn: chữ quốc ngữ, chữ Hán, chữ Pháp, toán, khoa học. Thời gian học là 3 năm. Cuối khoá có thi. Thi đậu sẽ đƣợc tuyển vào làm ở các công sở Pháp hoặc học lên.
Học xong Tiểu học thì vào trƣờng Trung học bảo hộ với các môn nhƣ ở Tiểu học nhƣng ở cấp học cao hơn và học cả lịch sử địa lý. Tốt nghiệp trƣờng trung học bảo hộ - Trƣờng Chasseloup Laubat sẽ có lƣơng gấp đôi so với có bằng Tiểu học. Năm 1879, qui chế giáo dục thứ hai ra đời. Giáo dục chia làm 3 cấp: Sơ học, Tiểu học, Trung học.
Sơ học học 3 năm với các môn: chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, làm toán. Học xong Sơ học phải thi tốt nghiệp mới lên Tiểu học. Tiểu học học các môn: chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, chữ nho, toán, khoa học, lịch sử, địa lý. Cuối cấp phải thi tốt nghiệp.
Tốt nghiệp Tiểu học mới đƣợc vào Trung học. Trung học học 4 năm. Học xong, thi tốt nghiệp Trung học. Tuy có kinh nghiệm giáo dục nhƣ thế ở Nam Kì, nhƣng chính quyền thực dân vẫn duy trì chế độ khoa cử sau năm 1884 với một khoảng thời gian hơn 20 năm vì các tính toán nham hiểm để đánh lừa, ru ngủ nhân dân ta, nhất là với tầng lớp “thức tự ”.
Những năm đầu thế kỉ XX, một bộ phận nhà Nho ƣu tú, yêu nƣớc, nhiều ngƣời trong số họ từng tham gia cử nghiệp đã nhận ra âm mƣu nham hiểm của thực dân Pháp khi chúng duy trì khoa cử cặn bã, lạc hậu, bảo thủ. Chịu ảnh hƣởng của những tác động khu vực và quốc tế, họ nhận ra những sai lầm khi theo đuổi cử nghiệp. Họ đã đứng dậy phê phán cử nghiệp, đả đảo khoa cử từ chƣơng. Họ đòi thực hiện một nền giáo dục thực nghiệp, có ích.
Chính họ đã tạo ra một áp lực xã hội đòi hỏi chính quyền thực dân phải thay đổi chế độ giáo dục. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự đòi hỏi của xã hội cho sự thay đổi giáo dục khoa cử Những năm đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới và khu vực đã ảnh hƣởng đối với Việt Nam. Nhật Bản Duy tân, những năm cuối thế kỷ XIX ; Cuộc vận động Duy tân ở Trung Quốc vào những năm 1895 – 1898; Hải chiến Giáp Ngọ giữa Nhật Bản và Trung Quốc nhà Thanh; Chiến tranh Nga Nhật 1905 mà Nga bại Nhật thắng; Tân thƣ, Tân văn, Tân báo đã mang đến cho ngƣời Việt Nam một cách nhìn mới, một tƣ tƣởng mới.
Biết bao ngƣời đã từng qua vòng cử nghiệp, khi họ giác ngộ, nhận thấy trong cuộc “tân vận hội” cần phải: “Đúc gan sắt để dời non lấp bể”, “Lấy máu nóng rửa vết dơ nô lệ”, “Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn” xả thân vì nghĩa lớn. Họ kêu gọi anh em hãy cảnh giác, hãy nhận ra âm mƣu của thực dân, hãy tránh xa bùa mê thuốc lú của khoa cử (…). Chính điều đó đã tạo nên một làn sóng duy tân sôi nổi, bồng bột khắp các miền đất nƣớc. Xin dẫn ra ở đây một đoạn trích từ “Hòa lệ cống ngôn-Hòa lệ dâng lời” của Phan Bội Châu năm 1906 để làm rõ tinh thần ấy.
“Kính gửi 6500 thí sĩ đồng bào túc hạ! Nƣớc mất 30 năm rồi! Giống nòi ta 10 phần bị tiêu diệt đến 6,7 phần rồi. Lũ giặc dị chủng lợi dụng những ngƣời biết chữ, đọc sách chúng ta diệt giống nòi ta. Thế nào là nƣớc mất? Từ khi bọn giặc dị chủng đến phá kinh thành nƣớc ta, đoạt quốc quyền của chúng ta, vua hãm trong cung sâu, không khác tù đày; quan lại nhân dân bị đánh roi đòn, khác gì trâu ngựa. Hết thảy chính quyền, không kể lớn bé, nằm trong tay giặc.
Các anh em hãy nhìn lá cờ cắm trong trƣờng thi là lá cờ ta chăng? hay là cờ ba sắc của giặc nhỉ?