Luận văn thạc sĩ ueh kiểm định mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính với quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh kiểm định mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính với quản trị lợi, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

2014

140
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

DANH MỤC PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.1.1. Một số khái niệm

1.1.2. Tầm quan trọng của CBTT trên thị trường chứng khoán

1.1.3. Phân loại CBTT

1.1.3.1. Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hay tự nguyện
1.1.3.2. Phân loại theo tính chất định kỳ hoặc bất thường
1.1.3.3. Phân loại thông tin theo mức độ xử lý

1.1.4. Yêu cầu CBTT

1.1.4.1. Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán
1.1.4.2. Yêu cầu CBTT của các DN niêm yết

1.1.5. Nguyên tắc CBTT trên thị trường chứng khoán

1.1.5.1. Nguyên tắc chính xác, trung thực và đầy đủ
1.1.5.2. Nguyên tắc kịp thời và liên tục

1.1.6. Đo lường mức độ CBTT của DN

1.1.6.1. Một số lý thuyết về đo lường mức độ CBTT
1.1.6.2. Các chỉ số đo lường mức độ CBTT

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.2.1. Khái niệm về quản trị lợi nhuận

1.2.2. Cơ sở và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận

1.2.3. Các hành vi về quản trị lợi nhuận

1.2.4. Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu thực nghiệm

1.2.5. Hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận thông qua chi phối các hoạt động kinh tế phát sinh

1.3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CBTT VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN

1.3.1. Các lý thuyết nền tảng

1.3.2. Mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và thông tin bất cân xứng

1.3.3. Mối quan hệ giữa CBTT và thông tin bất cân xứng

1.3.4. Các nghiên cứu về mối quan hệ CBTT và quản trị lợi nhuận

2. CHƯƠNG 2: KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

2.1. Phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị

2.2. Quy trình nghiên cứu

2.2.1. Giới thiệu tổng thể nghiên cứu và lựa chọn mẫu nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu và kiểm định

2.2.2.1. Đo lường các biến nghiên cứu
2.2.2.1.1. Biến phụ thuộc
2.2.2.1.2. Biến độc lập

2.3. Kết quả nghiên cứu

2.3.1. Kết quả về mức độ quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam

2.3.2. Kết quả về mối quan hệ giữa mức độ CBTT trên BCTC với quản trị lợi nhuận

2.3.3. Kết quả kiểm định giả thuyết H1

2.3.4. Giải thích ý nghĩa của mô hình và ý nghĩa các hệ số hồi quy

2.3.5. Kết quả kiểm định giả thuyết H2

2.3.6. Giải thích ý nghĩa của mô hình và ý nghĩa các hệ số hồi quy

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CBTT TRÊN BCTC VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

3.1. Giải pháp đối với DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam

3.1.1. Xây dựng hội đồng kiểm toán nội bộ độc lập và đầy đủ quyền hạn

3.1.2. Bộ phận kế toán trong DN cần duy trì sự chủ động, khách quan khi quyết định ghi nhận các nghiệp vụ phát sinh

3.1.3. DN niêm yết nên công bố đầy đủ hơn một số chỉ tiêu “nhạy cảm” trên thuyết minh BCTC

3.1.4. Hoàn thiện cơ chế CBTT nội bộ và kênh thông tin qua website của DN

3.2. Đối với Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN)

3.2.1. Hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá mức độ CBTT

3.2.2. Xây dựng một hội đồng đánh giá xếp hạng chất lượng thông tin của các DN niêm yết

3.2.3. Thực hiện nghiêm khắc các biện pháp chế tài trong quy định về CBTT

3.3. Đối với nhà đầu tư, các cổ đông

3.4. Đối với kiểm toán viên và tổ chức kiểm toán độc lập

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa công bố thông tin tài chính và quản trị lợi nhuận

Mối quan hệ giữa công bố thông tin tài chínhquản trị lợi nhuận là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cách thức mà các công ty niêm yết tại Việt Nam thực hiện công bố thông tin và ảnh hưởng của nó đến hành vi quản trị lợi nhuận. Việc công bố thông tin tài chính không chỉ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác mà còn ảnh hưởng đến sự minh bạch và độ tin cậy của thị trường chứng khoán.

1.1. Khái niệm công bố thông tin tài chính và quản trị lợi nhuận

Công bố thông tin tài chính là việc các công ty niêm yết công khai các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và các thông tin khác theo quy định của pháp luật. Quản trị lợi nhuận là hành vi của các nhà quản lý nhằm điều chỉnh lợi nhuận báo cáo để đạt được các mục tiêu nhất định. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này tạo ra một bức tranh rõ nét về tình hình tài chính của doanh nghiệp.

1.2. Tầm quan trọng của công bố thông tin trong quản trị lợi nhuận

Công bố thông tin tài chính có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và nhà đầu tư. Khi thông tin được công bố đầy đủ và kịp thời, nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định chính xác hơn, từ đó giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự tin tưởng vào công ty. Điều này cũng giúp các công ty niêm yết nâng cao uy tín và khả năng huy động vốn.

II. Những thách thức trong công bố thông tin tài chính tại Việt Nam

Mặc dù công bố thông tin tài chính là một yêu cầu bắt buộc, nhưng nhiều công ty niêm yết tại Việt Nam vẫn gặp phải nhiều thách thức trong việc thực hiện. Các vấn đề như thiếu minh bạch, thông tin không đầy đủ và không kịp thời là những yếu tố cản trở sự phát triển của thị trường chứng khoán. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến nhà đầu tư mà còn làm giảm tính cạnh tranh của các công ty niêm yết.

2.1. Thiếu minh bạch trong công bố thông tin

Nhiều công ty niêm yết không công bố đầy đủ các thông tin cần thiết theo quy định, dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch. Điều này gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc đánh giá chính xác tình hình tài chính của công ty.

2.2. Thông tin không kịp thời và không đầy đủ

Việc công bố thông tin không kịp thời có thể dẫn đến những quyết định sai lầm từ phía nhà đầu tư. Thông tin tài chính cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa công bố thông tin và quản trị lợi nhuận

Để nghiên cứu mối quan hệ giữa công bố thông tin tài chínhquản trị lợi nhuận, các phương pháp định tính và định lượng sẽ được áp dụng. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, từ đó đưa ra kết luận chính xác về ảnh hưởng của công bố thông tin đến quản trị lợi nhuận.

3.1. Phương pháp định tính trong nghiên cứu

Phương pháp định tính sẽ giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin và quản trị lợi nhuận. Các cuộc phỏng vấn với các nhà quản lý và chuyên gia trong ngành sẽ được thực hiện để thu thập thông tin chi tiết.

3.2. Phương pháp định lượng và phân tích hồi quy

Phương pháp định lượng sẽ sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết để thực hiện phân tích hồi quy. Mô hình hồi quy sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và hành vi quản trị lợi nhuận.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa mức độ công bố thông tin tài chính và hành vi quản trị lợi nhuận. Các công ty có mức độ công bố thông tin cao thường có hành vi quản trị lợi nhuận tích cực hơn. Điều này cho thấy rằng việc nâng cao chất lượng công bố thông tin có thể giúp giảm thiểu hành vi quản trị lợi nhuận tiêu cực.

4.1. Kết quả về mức độ công bố thông tin

Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty niêm yết có mức độ công bố thông tin cao hơn thường có tỷ lệ lợi nhuận ổn định hơn. Điều này cho thấy rằng công bố thông tin đầy đủ và kịp thời có thể giúp các công ty duy trì lợi nhuận bền vững.

4.2. Ứng dụng thực tiễn từ kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện quy trình công bố thông tin tại các công ty niêm yết. Các công ty nên chú trọng đến việc nâng cao chất lượng thông tin công bố để thu hút nhà đầu tư và tăng cường sự tin tưởng từ thị trường.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa công bố thông tin tài chínhquản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết tại Việt Nam. Việc nâng cao chất lượng công bố thông tin không chỉ giúp giảm thiểu hành vi quản trị lợi nhuận tiêu cực mà còn tăng cường sự minh bạch và độ tin cậy của thị trường chứng khoán. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về mối quan hệ này.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng công bố thông tin

Nâng cao chất lượng công bố thông tin là cần thiết để tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch và bền vững. Các công ty cần thực hiện các biện pháp để cải thiện quy trình công bố thông tin của mình.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin và quản trị lợi nhuận, cũng như so sánh với các quốc gia khác để rút ra bài học kinh nghiệm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh kiểm định mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính với quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 tác giả sẽ đưa ra những vấn đề cơ bản về công bố thông tin và quản trị lợi nhuận và cuối cùng là khẳng định mối quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1.1 Một số khái niệm Khái niệm về CBTT, mức độ CBTT Theo Owusu-Ansah (1998) CBTT là quá trình cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế và triển vọng phát triển của đơn vị, đặc biệt là các khoản mục được xác định bằng tiền cho các bên có quan tâm và có lợi ích liên quan đến đơn vị. Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời. Từ khái niệm về CBTT, theo nhận định của tác giả trong luận văn này mức độ CBTT được hiểu như sau: Mức độ CBTT là bậc gần hay xa so với tiêu chuẩn của CBTT, trong đó tiêu chuẩn của CBTT chính là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, công bố các thông tin liên quan đến tính hình tài chính, vị thế , triển vọng phát triển của đơn vị để thực hiện quy trình minh bạch của DN.  Khái niệm về thông tin trên BCTC và CBTT tài chính Thông tin trên BCTC là thông tin có được thông qua BCTC (như thông tin về doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả…) do DN cung cấp và chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán thông qua các BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh trên BCTC.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì thông tin trên BCTC là kết quả của quá trình tạo lập và công bố trên BCTC, sản phẩm của công tác kế toán, do vậy hai cụm từ “thông tin trên BCTC” và “ thông tin kế toán” là tương đồng. CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên) 1 Chúng ta thấy rằng những thông tin về nguồn lực của DN thường được trình bày trong các BCTC. CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc công bố hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa DN và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN. Những người có lợi ích liên quan đến DN sẽ sử dụng thông tin từ các báo tài chính để ra quyết định.

Theo IASB thì người có lợi ích này có thể phân loại như sau: cổ đông và cổ đông tiềm năng, nhân viên, chủ nợ, nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ và công chúng. Mỗi một nhóm khi sử dụng BCTC thì họ có những yêu cầu thông tin khác nhau, rất là khó để có một BCTC mà có thể đáp ứng yêu cầu cho tất cả nhóm trên. Và khi đó, cổ đông được xem như là một nhóm quan trọng hơn các nhóm còn lại vì họ chính là người cung cấp vốn cho công ty hoạt động. Vì vậy, BCTC nên trình bày những thông tin sao cho đáp ứng được mong đợi ở mức trung bình của các nhóm trên, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào cổ đông.

Nhu cầu thông tin mà cổ đông chủ yếu quan tâm về BCTC chính là sự minh bạch thông tin. Do đó để đảm bảo cho thị trường hoạt động hiệu quả thì thông tin công bố của các DN phải thực hiện một cách công khai , minh bạch. Nguyên tắc công khai được hiểu như thông tin cung cấp : thích hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh được và có thể hiểu được.2 Tầm quan trọng của CBTT trên thị trường chứng khoán. CBTT được xem là nền tảng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, kết quả dịch chuyển nguồn vốn trong DN, tình hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ và các thông tin khác trong BCTC chính là yếu tố 1 Thực trạng và giải pháp của vấn đề công bố thông tin của các DN niêm yết ở Việt Nam, Đặng Thị Thúy Hằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 củng cố niềm tin của nhà đầu tư, cổ đông cũng như đối tác khác của DN.

Đó chính là chìa khóa cho sự thành công và phát triển bền vững của thị trường chứng khoán. Có thể nói CBTT là ngôn ngữ giao tiếp giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư bên ngoài. Việc công bố thông tin có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể sau: - Đối với nhà đầu tư: Việc tìm hiểu một cách chủ ý cũng như tiếp cận thông tin từ DN là phương tiện tốt nhất để thực hiện đầu tư hiệu quả. Công ty niêm yết cung cấp thông tin qua các BCTC định kỳ và đột xuất giúp nhà đầu tư nắm bắt được thời cơ kinh doanh cũng như xây dựng một danh mục đầu tư phù hợp.

Đây là vấn đề đáng quan tâm nhằm giảm bớt sự bất cân xứng về thông tin. - Đối với nhà quản lý thị trường (Uỷ ban chứng khoán (UBCK), Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)): Thông tin từ công ty niêm yết giúp nhà quản lý thị trường có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết, từ đó có thể điều chỉnh hoạt động của họ như cho phép niêm yết, hủy bỏ niêm yết hay tái niêm yết, và cũng là căn cứ để đưa ra quyết định khen thưởng hay xử lý vi phạm một cách công bằng và hợp lý. - Đối với bản thân các công ty niêm yết: Việc CBTT thể hiện trên BCTC hay những thông tin khác đã phản ánh trung thực hiệu quả hoạt động của công ty. Nó là một phương tiện quảng bá tốt nhất, khách quan nhất về hình ảnh, thương hiệu, uy tín của công ty trên thương trường và mang lại một mức giá cao xứng đáng cho cổ phiếu của họ, tạo được lòng tin đối với nhà đầu tư.

Còn nếu kinh doanh không hiệu quả, thì công ty phải chịu thiệt hại do giá cổ phiếu đi xuống. Nhưng điều này lại có mặt tích cực của nó, các thông tin trung thực sẽ là động lực giúp các công ty hoàn thiện chế độ quản trị, tìm ra phương án tốt nhất phát triển thương hiệu của mình. - Duy trì mối quan hệ chủ sở hữu và nhà quản lý: Do có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người đại diện hay tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nên về mặt lý thuyết và thực tế đã xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, thì về bản chất người đại diện công ty luôn có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu và các cổ đông. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do có sự tách biệt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 giữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo ra thông tin không cân xứng (asymestric information), người điều hành (đại diện) có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp.

Vậy nên CBTT nói chung và thông tin kế toán nói riêng được sử dụng để giám sát hoạt động của nhà quản lý, đây là cầu nối là ngôn ngữ giao tiếp của nhà quản lý và các cổ đông. Ở nhiều nước trên thế giới, việc CBTT đã trở thành một thứ văn hóa trong kinh doanh, vì cổ đông và những người có quyền lợi liên quan đến công ty cần được cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về tình hình của công ty. Những thông tin này phải đáng tin cậy và phải được phổ biến rộng rải cho công chúng một các kịp thời và công bằng. Đó là điều kiện để người sử dụng thông tin ra quyết định đúng đắn về công ty.

Vì vậy thị trường chứng khoán là nơi thực hiện sự đánh giá của xã hội đối với giá trị công ty.3 Phân loại CBTT 1.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hay tự nguyện CBTT bắt buộc: là những CBTT được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của luật kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAPs và các chuẩn mực kế toán CBTT tự nguyện là sự lựa chọn của DN, không bắt buộc. Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin mà pháp luật không yêu cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài DN.2 Phân loại theo tính chất định kỳ hoặc bất thường Các loại thông tin công bố định kỳ thường là BCTC năm, BCTC bán niên kèm theo báo cáo kiểm toán, BCTC quý. Nội dung CBTT về BCTC của các công ty niêm yết bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bản thuyết minh BCTC theo quy định của pháp luật về kế toán.

Các loại thông tin công bố bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 như tài khoản công ty tại ngân hàng bị phong tỏa, tổn thất tài sản có giá trị 10% vốn chủ sở hữu trở lên….3 Phân loại thông tin theo mức độ xử lý Thông tin ban đầu: Là những BCTC do DN công bố trên thị trường Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin đã được thống kê lại từ những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau.4 Yêu cầu CBTT Yêu cầu CBTT được quy định rõ trong chuẩn mực kế toán của Việt Nam và trong các văn bản pháp lý về CBTT dành cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nội dung dưới đây được rút ra từ yêu cầu chung của chuẩn mực kế toán và của thông tư hướng dẫn về CBTT theo văn bản pháp lý của Việt Nam.1 Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán Theo chuẩn mực kế toán VAS 01- Chuẩn mực chung, thông tin kế toán cần được trình bày trung thực và khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và tính có thể so sánh được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ