Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách trả cổ tức: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách trả cổ tức nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

64
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Chi phí đại diện

1.2. Lý thuyết phát tín hiệu

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1. Vốn sở hữu của định chế và chính sách cổ tức

2.2. Vốn sở hữu nhà quản lý và chính sách cổ tức

2.3. Vốn sở hữu của nhà nước và chính sách cổ tức

2.4. Vốn sở hữu nước ngoài và chính sách cổ tức

3. CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguồn dữ liệu và kích thước mẫu

3.2. Các biến số trong bài nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.4. Mô hình điều chỉnh toàn phần FAM

3.5. Mô hình điều chỉnh từng phần PAM

3.6. Mô hình Waud

3.7. Mô hình xu hướng thu nhập ETM

3.8. Phương thức thực nghiệm

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Kết quả hồi quy mô hình FAM

4.3. Kết quả hồi quy mô hình PAM

4.4. Kết quả hồi quy mô hình WM

4.5. Kết quả hồi quy mô hình ETM

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục: Danh sách 70 công ty trong bộ mẫu quan sát

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách trả cổ tức tại Việt Nam

Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp. Tại Việt Nam, nghiên cứu này trở nên đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế đang trong quá trình chuyển mình và hội nhập quốc tế. Các yếu tố như sở hữu của nhà quản lý, sở hữu của định chế, và sở hữu nước ngoài đều có thể ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố này và đưa ra những kết luận quan trọng về chính sách chi trả cổ tức tại các công ty niêm yết.

1.1. Định nghĩa cấu trúc sở hữu và chính sách trả cổ tức

Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp được hiểu là cách thức mà quyền sở hữu và quyền kiểm soát được phân bổ giữa các cổ đông. Chính sách trả cổ tức là quyết định của ban quản lý về việc phân phối lợi nhuận cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Sự tương tác giữa hai yếu tố này có thể tạo ra những ảnh hưởng lớn đến giá trị doanh nghiệp và sự hài lòng của cổ đông.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu mối quan hệ này

Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hành vi của các doanh nghiệp tại Việt Nam mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định đầu tư và quản lý tài chính.

II. Những thách thức trong việc nghiên cứu mối quan hệ này tại Việt Nam

Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức tại Việt Nam gặp phải nhiều thách thức. Đầu tiên, dữ liệu về các công ty niêm yết còn hạn chế và không đầy đủ. Thứ hai, sự khác biệt trong cách thức quản lý và văn hóa doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, việc áp dụng các mô hình nghiên cứu từ các quốc gia khác có thể không hoàn toàn phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

2.1. Hạn chế về dữ liệu và thông tin

Dữ liệu về các công ty niêm yết tại Việt Nam thường không đầy đủ và khó tiếp cận. Điều này gây khó khăn trong việc phân tích và đưa ra kết luận chính xác về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức.

2.2. Sự khác biệt trong văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam có thể khác biệt so với các quốc gia phát triển, điều này có thể ảnh hưởng đến cách thức mà các công ty quyết định chi trả cổ tức. Sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa cần được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách trả cổ tức

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức. Dữ liệu được thu thập từ các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán lớn tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2007 đến 2012. Các mô hình hồi quy sẽ được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ này.

3.1. Thu thập dữ liệu và mẫu nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của 70 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến 2012, nhằm đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu.

3.2. Các mô hình hồi quy sử dụng trong nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ áp dụng các mô hình hồi quy như mô hình Lintner, Waud và Fama-Babiak để phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức. Các mô hình này đã được chứng minh là hiệu quả trong các nghiên cứu trước đây.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ rõ ràng giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Cụ thể, sở hữu của nhà quản lý và sở hữu nước ngoài có mối quan hệ nghịch biến với chính sách chi trả cổ tức, trong khi sở hữu của định chế và sở hữu nhà nước có mối quan hệ đồng biến.

4.1. Phân tích kết quả hồi quy

Kết quả hồi quy cho thấy rằng các công ty có tỷ lệ sở hữu cao của nhà quản lý thường có xu hướng chi trả cổ tức thấp hơn. Ngược lại, các công ty có tỷ lệ sở hữu của định chế cao thường có chính sách chi trả cổ tức tích cực hơn.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư thông minh hơn. Đồng thời, các công ty cũng có thể sử dụng thông tin này để điều chỉnh chính sách chi trả cổ tức nhằm thu hút thêm vốn đầu tư.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữuchính sách trả cổ tức tại Việt Nam là một lĩnh vực cần được nghiên cứu sâu hơn. Các yếu tố như sở hữu của nhà nước và sở hữu nước ngoài cần được xem xét kỹ lưỡng trong các nghiên cứu tiếp theo. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác định được mối quan hệ giữa các loại hình sở hữu và chính sách chi trả cổ tức, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi của các doanh nghiệp tại Việt Nam.

5.2. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi nghiên cứu để bao gồm các yếu tố khác như tác động của môi trường kinh doanh và chính sách thuế đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách trả cổ tức nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Thuế “Những tranh luận ban ñầu về chính sách cổ tức trong môi trường có thuế xuất phát từ các nghiên cứu trên thị trường Mỹ, một quốc gia có thuế suất ñánh trên thu nhập từ cổ tức cao hơn thu nhập từ lãi vốn trong nhiều thập niên. Nếu cổ tức bị ñánh thuế cao hơn lãi vốn, doanh nghiệp sẽ chi trả tiền mặt thấp, tiền mặt có sẵn sẽ ñược giữ lại ñể mua lại cổ phần. Ủng hộ cho lập luận này, Lie và Lie (1999) tìm thấy thuế suất của nhà ñầu tư ảnh hưởng ñến chính sách cổ tức, các doanh nghiệp có cổ tức thấp và các nhà ñầu tư của chúng có thuế suất cao, thường công bố mua lại cổ phần thường xuyên hơn là cổ tức tiền mặt ñặc biệt, hoặc tăng cổ tức thường xuyên” (Dương Kha, 2012, trang 43) Gene Amromin và cộng sự (2003) xem xét tác ñộng của việc sửa ñổi luật thuế của Mỹ (giảm thuế cổ tức từ 38,6% năm 2002 xuống còn 15%) lên hành vi cổ tức của các doanh nghiệp, nghiên cứu này tìm thấy tỷ lệ công ty có mặt trong chỉ số S&P 500 chi trả cổ tức trong năm 2003 tăng lên so với năm 2002.

Brav và cộng sự (2008) thực hiện một cuộc khảo sát phản ứng của ban quản trị về ảnh hưởng của luật thuế sửa ñổi năm 2003 lên quyết ñịnh chi trả cổ tức, kết quả cho thấy cắt giảm thuế có ảnh hưởng thứ nhì lên cổ tức lần ñầu và tăng cổ tức của các công ty. Kết quả này ñã ñược trình bày trong công trình của Trần Thị Hải Lý (2012). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tại một số quốc gia như Mỹ, ðức, Trung Quốc, Thái Lan cũng như Việt Nam có một hệ thống thuế cổ ñiển, thuế thu nhập cổ tức ñược coi là một loại trong thuế thu nhập (UBCKNN, 2011). Theo ñó các công ty bị ñánh thuế ñộc lập với các cổ ñông của họ.

Các công ty phải trả một tỷ lệ cố ñịnh trên lợi nhuận và cổ ñông của họ phải trả thuế thu nhập từ cổ tức mà họ nhận ñược ở tỷ lệ biên của thuế thu nhập. ðiều này có nghĩa rằng cổ tức về cơ bản bị ñánh thuế hai lần, lần ñầu tiên dưới hình thức thuế công ty trên lợi nhuận công ty, và thứ hai, trong hình thức thuế thu nhập ñối với thu nhập cổ tức. Theo kết quả quan trọng của hệ thống cổ ñiển là ñối tượng bị ñánh thuế thu nhập dù là ở mức cao hay thấp ñều thích lợi nhuận ñược giữ lại trong công ty chứ không phải là chi trả cổ tức (Black, 1976). Việc bị ñánh thuế hai lần này gây ra tâm lý bất bình cho nhà ñầu tư hơn là con số thuế cổ tức mà họ phải gánh chịu, nên dù với mức thuế cổ tức thấp, các nhà ñầu tư vẫn không ủng hộ việc chia mức cổ tức cao.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Bảng 2: Tỷ suất thuế cổ tức ở một số quốc gia Quốc gia Mức thuế suất Anh 10 – 32.5% Áo 25% Ấn ðộ 20 – 25% Bỉ 15 – 25% Bulgary 5% 0% với nhà ñầu tư trong nước ðài Loan 20% với nhà ñầu tư nước ngoài ðức 25% Hà Lan 15% Hàn Quốc 6 – 35% Hong Kong 0% Indonesia 15% Italia 12.5% Malaysia 0% Pháp 5% Philippines 10% Singapore 0% LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thái Lan 10% Trung Quốc 10% Úc 0 – 15% Nguồn: Taxrates. Chi phí ñại diện Lý thuyết ñại diện ñược Jensen và Meckling (1976) ñưa ra xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản lý công ty cổ phần (người ñại diện) và các cổ ñông (người chủ). Trong môi trường bất cân xứng thông tin, mâu thuẫn này sẽ làm phát sinh chi phí ñại diện. Lý thuyết ñại diện cho rằng chi trả cổ tức càng nhiều càng làm giảm dòng tiền tự do bên trong công ty (là dòng tiền nằm dưới quyền ñịnh ñoạt của các nhà quản lý) và nếu có nhu cầu ñầu tư mới, công ty có thể huy ñộng nguồn tài trợ bên ngoài.

Gia tăng nguồn vốn bên ngoài buộc công ty phải chịu sự kiểm soát của thị trường vốn, ñiều này làm giảm khả năng thực hiện những ñầu tư không hiệu quả của ban quản lý. Sự giám sát của những nhà cung cấp vốn bên ngoài cũng giúp ñảm bảo rằng các nhà quản lý hành ñộng vì lợi ích cao nhất của các cổ ñông. Các nhà ñầu tư lo ngại vấn ñề ñại diện, vì thế họ có phản ứng tích cực với những thông tin tăng cổ tức và ngược lại. Short và cộng sự (2002) khi tiến hành xem xét thực nghiệm về mối quan hệ giữa sở hữu của các ñịnh chế với chính sách chi trả cổ tức, dựa trên dữ liệu bảng gồm 211 công ty ñược niêm yết trên sàn chứng khoán Luân ðôn trong giai ñoạn từ năm 1988 ñến năm 1992, ñã tìm thấy bằng chứng rằng chính sách cổ tức ñóng vai trò quan trọng trong việc cắt giảm chi phí ñại diện.

Rozeff (1982) và Easterbrook (1984) lập luận rằng việc chi trả cổ tức buộc các doanh nghiệp tìm ñến các thị trường vốn bên ngoài ñể bổ sung nguồn vốn và, do ñó, phải chịu sự giám sát bởi các thị trường vốn. Về mặt này, Zeckhauser và Pound (1990) cho rằng cổ ñông ñịnh chế có thể hoạt ñộng như một cơ chế giám sát thay thế, do ñó làm giảm sự cần thiết phải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giám sát bởi các thị trường vốn bên ngoài, từ ñó chi trả cổ tức ít hơn. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của hành vi “kẻ ăn không” (free rider) (Nguyễn ðức Thành, 2012) nên các ñịnh chế gần như không hứng thú với chức năng giám sát. Từ ñó, Zeckhauser và Pound (1990) ñề nghị các ñịnh chế thay vì giám sát thì nên buộc các công ty chia cổ tức, ñiều này làm cho các công ty buộc phải tìm ñến các thị trường vốn bên ngoài.

Lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986) cho thấy rằng các nhà quản lý không muốn trả cổ tức, thay vào ñó họ muốn duy trì nguồn tiền mặt dưới sự kiểm soát của mình. Eckbo và Verma (1994) phân tích thực nghiệm từ mẫu bao gồm 308 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Toronto – Canada (TSE) trong giai ñoạn từ năm 1976 ñến năm 1988, lập luận rằng cổ ñông ñịnh chế sẽ thích dòng tiền tự do ñược phân phối dưới hình thức cổ tức ñể giảm chi phí ñại diện của dòng tiền tự do. Từ quan ñiểm này, chúng ta tranh luận rằng cổ ñông ñịnh chế có thể chống lại xu hướng các nhà quản lý thích lưu giữ quá nhiều tiền mặt, và nhờ quyền biểu quyết, nhà ñầu tư này buộc các nhà quản lý phải chi trả cổ tức. Ullah và cộng sự (2012) tiến hành phân tích ñịnh lượng dựa trên mẫu bao gồm 70 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi ñại diện bởi chỉ số KSE- 100 của Pakistan trong giai ñoạn từ năm 2003 ñến năm 2010, cho thấy chính sách cổ tức có thể hạn chế hành vi trục lợi của nhà quản lý.

Leal và Carvalhal-da-Silva (2007) cho rằng vấn ñề ñại diện xuất hiện khi nhà quản lý không cố gắng ñể tối ña hóa giá trị cổ ñông. Stouraitis và Wu (2004) quan sát các công ty tại Nhật Bản cũng nhận thấy chính sách chi trả cổ tức có thể sử dụng ñể kiểm soát vấn ñề ñầu tư tràn lan của công ty và hai ông cũng nhận thấy rằng mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ ñông về chính sách cổ tức cũng thay ñổi theo các cơ hội phát triển của công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết phát tín hiệu Lý thuyết về tác ñộng tín hiệu dựa trên ý tưởng là người ñại diện doanh nghiệp muốn truyền tải thông tin tới chủ sở hữu về tình hình doanh nghiệp nhằm tạo ra mối quan hệ ñầu tư.

Người quản lý có lợi thế nắm bắt nhiều thông tin nội bộ về công ty hơn các nhà ñầu tư bên ngoài nhưng họ không sẵn lòng cung cấp những thông tin ñầy ñủ ñến cho cổ ñông. Do ñó, chính sách cổ tức có thể ñược sử dụng cho mục ñích thông tin và chính sách cổ tức cũng ñược xem như một tín hiệu cho dự án tương lai của công ty (Bhattacharya, 1979, 1980; Miller và Rock, 1985; Li và Zhao, 2008). Zeckhauser và Pound (1990) ñiều tra 286 công ty từ 22 ngành công nghiệp khác nhau tại thị trường Mỹ, cho rằng cổ tức và cổ ñông ñịnh chế có thể ñược xem như là thiết bị truyền tín hiệu thay thế nhau. Sự hiện diện của một cổ ñông lớn có thể hạn chế việc sử dụng cổ tức làm tín hiệu, vì bản thân việc các cổ ñông lớn tham gia góp vốn cũng ñược xem là một tín hiệu tốt vì các cổ ñông này có tầm ảnh hưởng trong việc giám sát hoạt ñộng của công ty một cách tốt hơn.

Tuy nhiên, có một ñiều không rõ ràng là cổ ñông ñịnh chế sẽ phát tín hiệu về triển vọng tương lai của công ty ra thị trường chính xác như thế nào. Có hai kịch bản có thể xảy ra. Thứ nhất, sự hiện diện của cổ ñông ñịnh chế báo hiệu cho thị trường biết chi phí ñại diện ñang giảm do các hoạt ñộng giám sát của họ. Tuy nhiên, như ñã thảo luận, dường như cổ ñông ñịnh chế không sẵn sàng giám sát trực tiếp.

Thứ hai, các thông tin thêm ñược ñưa ra cho thấy cổ ñông ñịnh chế có thể có liên quan ñến triển vọng trong tương lai (vì họ dễ dàng kiểm soát việc quản lý), thị trường hoàn toàn có thể giải thích sự hiện diện của một cổ ñông là ñịnh chế như báo hiệu tin tốt về triển vọng tương lai của công ty. Tuy nhiên cũng có một số ñiểm ñáng chú ý rằng các bằng chứng sẵn có không ủng hộ kịch bản này. Bản thân sự hiện diện các ñịnh chế ñã nhấn mạnh cổ tức như một tín hiệu về triển vọng tương lai (Trade and Industry Committee on Com, 1994), có thể thấy rằng các ñịnh chế không tự coi mình như tín hiệu thay thế. Ngoài ra, các ñịnh chế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cần phải cảnh giác với thông tin nội bộ bởi công ty có những ñiều lệ nội bộ riêng.

Hơn nữa, sự tăng trưởng trong các quỹ chỉ số cho thấy rằng sự hiện diện của một cổ ñông ñịnh chế, không nhất thiết ám chỉ một ñịnh chế cụ thể nào ñó tin tưởng rằng những công ty có triển vọng tốt hơn so với mức trung bình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ðÂY 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ