MỞ ĐẦU Khai thác tài nguyên, nâng cao giá trị và chất lượng cuộc sống là một trong những giải pháp được nhiều nước trên thế giới áp dụng, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khai thác tài nguyên, đặc biệt là khai thác khoáng sản đã và đang làm nảy sinh nhiều hệ lụy do chất lượng môi trường bị xuống cấp. Ở nhiều loại hình sản xuất, vấn đề môi trường, an ninh, an toàn là hết sức nghiêm trọng; ví dụ như dự án khai thác Bauxite ở Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng. Để giảm thiểu các tác động tiêu cực do quá trình hậu khai thác gây nên, vấn đề hoàn nguyên, cải tạo phục hồi môi trường rất được chú trọng.
Hơn nữa, đây còn là nhiệm vụ bắt buộc đã được quy định cụ thể tại Quyết định số 71/2008/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 29/5/2008 và Thông tư số 38/2015/TT- BTNMT ngày 20/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Tuy nhiên không phải giải pháp cải tạo nào cũng tốt, có hiệu quả và đúng quy định. Do vậy nhiều giải pháp được tính toán, đề xuất bằng cảm quan, lý thuyết thường không đảm bảo yêu cầu khoa học và thực tiễn. Bởi lý do khách quan, chủ quan có thể dẫn đến sự yếu kém của các giải pháp đã được đề xuất.
Chính vì vậy, nhằm giải quyết vấn đề cấp thiết này đề tài cấp nhà nước có mã số TN17/T04 do TS. Nguyễn Mạnh Hà làm chủ nhiệm đề tài đã ―Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp các giải pháp cải tạo, phục hồi hệ sinh thái khu vực bãi thải và khu khai thác khoáng sản nhằm ngăn ngừa hoang mạc hóa, sử dụng đất hiệu quả, bền vững vùng Tây Nguyên‖ [1]. Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng 02 mô hình thí điểm là mô hình 1 (MH1) trên bãi thải sau khai thác quặng bauxite và mô hình 3 (MH3) trên hồ bùn thải rửa quặng. Mô hình đã lựa chọn các loài cây trồng phù hợp trên cơ sở nghiên cứu của đề tài mã số ĐTĐL.
Nguyễn Thành Mến chủ nhiệm đề tài [2] để áp dụng trên các mô hình; Kết hợp nhiều phương pháp và vật liệu mới, phù hợp được các đề tài trong Chương trình Tây Nguyên 3 nghiên cứu nhằm cải tạo môi trường đất hiệu quả. Các mô hình hoàn phục môi trường này đang trong những giai đoạn phát triển ban đầu nên cần thực hiện các đánh giá nhằm xác định hiệu quả và những 2 tác động thực tế tới môi trường đất. Vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá mô hình hoàn phục môi trường đất khu khai thác bauxite Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng và đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý” để đánh giá chất lượng đất của MH1 và MH3 trong thời gian đầu đi vào thực nghiệm, tập trung chủ yếu vào phân tích, so sánh, đánh giá hàm lượng các thành phần hóa học trong đất; Đồng thời đề xuất các giải pháp sử dụng đất hiệu quả sau khi kết thúc khai thác. Bộ số liệu về mô hình thực nghiệm và phân tích chất lượng môi trường đất trước và sau khi cải tạo các bãi thải khu khai thác khoáng sản bauxite Tân Rai đáng tin cậy và có thể làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về xây dựng mô hình thực nghiệm và các nghiên cứu khác liên quan đến hoàn phục môi trường khu khai thác khoáng sản.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định được hàm lượng một số chỉ tiêu hóa học cơ bản và kim loại nặng trong môi trường đất tại 02 mô hình MH1 và MH3 - mô hình của đề tài ĐTĐL.2011/T03 và các vị trí nền trong khu khai thác Bauxite Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng. Đánh giá được chất lượng môi trường đất theo thời gian nghiên cứu ở 02 mô hình hoàn phục môi trường đất tại khu khai thác Bauxite Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng. Đề xuất được các giải pháp sử dụng đất hợp lý cho các khu vực mỏ sau khi kết thúc khai thác. Nội dung nghiên cứu: Khảo sát, đánh giá sơ bộ về khu khai thác mỏ khai thác bauxite Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng và 02 mô hình hoàn phục hoàn phục môi trường đất MH1 và MH3.
Quan trắc và phân tích mẫu đất tại 02 mô hình MH1 và MH3, mô hình của đề tài ĐTĐL.2011/T03 và các vị trí nền khu khai thác Bauxite Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng. Đánh giá hiệu quả của 02 mô hình MH1 và MH3. Đưa ra các đề xuất sử dụng đất hợp lý trên bãi thải sau khi kết thúc khai thác khoáng sản. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong luận văn - Môi trường đất: là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định. Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong lòng trái đất. Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau. Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu.
- Khoáng vật bauxite: là một loại quặng nhôm trầm tích đát núi lửa có màu hồng, nâu được hình thành từ quá trình phong hóa đá mẹ giàu nhôm hoặc tích tụ từ các quặng có trước bởi quá trình xói mòn. Quặng bauxite tại Việt Nam được phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên, chiếm trên 90% tổng trữ lượng cả nước. Trong đó, Gia Lai và Kon Tum khoảng 11%, Đắc Nông 61% và Lâm Đồng là 20%. Từ quặng bauxite sẽ tách ra alumina (Al2O3), nguyên liệu chính để luyện nhôm trong các lò điện phân [4] [5].
- Khai thác bauxite: Trong phạm vi nghiên cứu, đơn vị khai thác sử dụng phương pháp đào mỏ lộ thiên. Do lớp quặng gần bề mặt nên chỉ cần bóc bỏ lớp đất mặt phía trên gom về khu bảo quản, sau đó khai thác hết lớp quặng lẫn đất chuyển về nhà máy để tuyển lấy quặng tinh. Đây cũng là phương pháp thông dụng nhất để khai thác bauxite [4]. - Hoàn thổ: là công tác khôi phục lại mặt bằng, hiện trạng khu vực khai thác giống như thời điểm trước khi khai thác.
Có thể hiểu đơn giản là hoàn trả lại lớp đất mặt như ban đầu gồm nhiều chỉ số như: địa hình, địa mạo, tầng thổ nhưỡng, môi trường đất, thảm thực vật. - Hoàn phục môi trường đất: là quá trình cải tạo, phục hồi môi trường đất sau khi bị tác động bởi yếu tố bên ngoài trở lại trạng thái tương tự như ban đầu. Các yếu tố bên ngoài chủ yếu đến từ hoạt động của con người, ngoài ra còn có tác động từ tự nhiên như thiên tai, bão lũ, động đất. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến cải tạo, phục hồi môi trƣờng đất khu khai thác khoáng sản 1.
Tình hình khai thác và cải tạo, phục hồi môi trường đất sau khai thác trên thế giới a) Công trình nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc và tính chất của đất sau cải tạo, phục hồi môi trường Quá trình khai thác khoáng sản ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái và tính chất đất tại khu vực khai khoáng. Việc cải tạo có thể phục hồi được tính chất của đất theo giời gian. Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã đi vào nghiên cứu cấu trúc và tính chất của đất tại các khu vực mỏ khoáng sản nhằm đưa ra những hướng khắc phục phù hợp. Như tại Hoa Kỳ, hai nhà khoa học Raj K.Shrestha và Rattan Lai đã đi vào nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình khai thác và tính chất hóa lý sau cải tạo, phục hồi của ba loại đất chính ở Ohio.
Ba loại đất chính gồm có: Mahoning- Canfield-Rittman-Chili, Coshocton-Westmoreland-Berks và Gilpin-Upshur- Lowell-Guernsey. Để khách quan, các nhà nghiên cứu đã xác định 54 vị trí lấy mẫu ở gần các khu mỏ nằm trên địa bàn tám quận ở miền đông Ohio. Mỗi vị trí lấy mẫu được lấy hai mẫu và một mẫu nền không bị ảnh hưởng bởi hoạt động của các mỏ. Mẫu vật liệu composite và cốt lõi được lấy từ độ sâu 0-15, 30-30 và 30-45 cm trong năm 2008.
Sau khi phân tích các nhà khoa học đã nhận thấy tỷ trọng của đất tại các khu vực mỏ tăng 54% so với khu vực đất nền thông thường. Hoạt động khai thác mỏ cũng làm tăng độ pH và độ dẫn điện (EC), làm giảm lượng cacbon hữu cơ và nitơ trong đất. Từ đó cho thấy lớp đất mặt khi đưa vào để hoàn thổ cần được xử lý tốt hơn nhằm bảo vệ cấu trúc của đất, chất dinh dưỡng, hàm lượng cacbon và nitơ trong đất, tránh hiện tượng thoái hóa đất sau khi khai thác mỏ [6]. Tại Hà Lan, đã có nghiên cứu của các nhà khoa học Miroslawa Gilewska, Jan Bender và Stanislaw Drzymala, nghiên cứu về các tính chất vật lý của đất nông nghiệp sau khai thác than ở miền trung Ba Lan nhằm đánh giá hiệu quả của 5 các phương pháp cải tạo đất [7].
Tại Trung Quốc, nghiên cứu đặc điểm phân bố của các nguyên tố có sẵn trong đất từ đất khai hoang trong khu vực khai thác mỏ ở khu vực phía Bắc được thực hiện bởi ba nhà khoa học Li Zhanbin, Zhang Qinling và Li Peng. Nghiên cứu về sự thay đổi theo không gian và thời gian của các nguyên tố vi lương: Cu, Fe, Mn, Zn trong đất sau khai thác khoáng sản dưới các điều kiện cải tạo khác nhau trên lưu vực sông Ulan Moron, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Nghiên cứu này cho rằng các biện pháp cải tạo khác nhau có ảnh hưởng đáng kể đến hàm lượng và sự phân bố của các nguyên tố Cu, Fe, Mn, Zn trong đất. Các nguyên tố này có mỗi tương quan chặt chẽ với độ pH và hàm lượng hữu cơ trong đất.
Việc che phủ mặt đất bằng cây bụi và cây thân thảo phù hợp có thể cải thiện tích cực hàm lượng các nguyên tố này. Hàm lượng các nguyên tố đã được đo đạc qua thời gian và tổng kết lại: Hàm lượng Mangan khi mới cải tạo thấp do sự xáo trộn đất trong khai thác mỏ làm phá hủy cấu trúc ban đầu, tuy nhiên theo thời gian hàm lượng Mangan trong đất đã được phục hồi và cấu trúc đất cũng được tái tạo lại. Hàm lượng Sắt khi cải tạo đã tăng lên nhanh chóng và sớm vượt hàm lượng Sắt trong đất tự nhiên. Hàm lượng Zn và Đồng giảm nhẹ trong thời gian đầu cải tạo, tuy nhiên sau 8 năm cải tạo đã tăng lên và dần đạt tới lý tưởng.
Có nhiều phương án cải tạo đất giúp phục hồi các nguyên tố vi lượng tuy nhiên việc khắc phục, cải tạo đất bằng cây bụi và cây thân thảo đã cho thấy hiệu quả rõ rệt qua nghiên cứu này [8].