Tổng quan nghiên cứu

Khai thác bauxite tại Tây Nguyên chiếm hơn 90% tổng trữ lượng quặng nhôm của cả nước, trong đó tỉnh Lâm Đồng chiếm khoảng 20% và Đắk Nông chiếm 61%. Dự án khai thác bauxite Tân Rai tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng được triển khai trên quy mô khai trường rộng 1.619,5 ha, bao gồm thân quặng I rộng 464,8 ha và thân quặng II rộng 1.154,7 ha. Hoạt động bóc tách tầng đất phủ dày từ 0,2 đến 2,0 m cùng quá trình tuyển rửa quặng đã tạo ra khối lượng bãi thải và hồ bùn thải quặng đuôi khổng lồ, làm phá vỡ cấu trúc đất tự nhiên, suy giảm nghiêm trọng độ phì nhiêu và tiềm ẩn rủi ro xói mòn đất trên diện rộng. Nhằm tuân thủ Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khoáng sản, việc đánh giá các mô hình hoàn thổ thực nghiệm là yêu cầu cấp thiết.

Nghiên cứu tập trung đánh giá chất lượng môi trường đất tại 02 mô hình hoàn phục thực nghiệm gồm mô hình bãi thải sau khai thác (MH1) và mô hình hồ bùn thải sau tuyển quặng (MH3) tại mỏ Tân Rai trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 01 năm 2019. Mục tiêu trọng tâm là định lượng biến động của 12 chỉ tiêu hóa lý, đánh giá hàm lượng kim loại nặng (đồng, chì, kẽm), xác định chỉ số chất lượng đất tổng hợp và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất bền vững sau khai thác. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy giúp nâng cao hiệu quả phục hồi sinh thái, bảo vệ tài nguyên đất và định hướng chuyển đổi mục đích sử dụng đất an toàn cho vùng Tây Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phục hồi sinh thái cảnh quan và nguyên lý ổn định hóa đất ô nhiễm bằng thực vật. Quá trình khai thác lộ thiên làm đảo lộn hoàn toàn phẫu diện đất bazan, làm mất lớp mùn hữu cơ bề mặt và suy giảm khả năng đệm sinh học. Để phục hồi hệ sinh thái, lý thuyết bồi hoàn thổ nhưỡng định hướng việc hoàn trả lớp đất mặt kết hợp che phủ thực vật nhiều tầng tán nhằm thiết lập lại chu trình dinh dưỡng khoáng và hữu cơ.

Nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật then chốt:

  • Hoàn phục môi trường đất: Quá trình cải tạo và phục hồi các đặc tính lý, hóa, sinh học của đất sau khai thác mỏ trở lại trạng thái cân bằng sinh thái.
  • Bùn thải quặng đuôi: Hỗn hợp đất, bùn sét mịn và khoáng vật phát sinh sau công đoạn tuyển rửa quặng bauxite bằng nước cao áp, không chứa hóa chất tuyển quặng độc hại nhưng có độ kết dính cao và nghèo dinh dưỡng.
  • Dung tích hấp thu cation (CEC): Chỉ số đo lường khả năng giữ lại và trao đổi các cation dinh dưỡng của keo đất, quyết định độ phì nhiêu thực tế.
  • Chỉ số chất lượng đất (SCLĐ): Công cụ định lượng tích hợp đa chỉ tiêu hóa lý đơn lẻ thành một giá trị thang điểm duy nhất từ 0 đến 1 nhằm phản ánh mức độ thành công của quá trình phục hồi đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện thu thập tổng cộng 21 mẫu thổ nhưỡng tại 7 vị trí phẫu diện (mỗi phẫu diện lấy 3 tầng: 0-15 cm, 15-50 cm và trên 50 cm) cùng 20 mẫu nông hóa tầng mặt (0-15 cm) tại 02 mô hình thí điểm và các điểm nền đối chứng. Địa điểm lấy mẫu bao gồm mô hình bãi thải hoàn thổ MH1 (diện tích 1,0 ha), mô hình hồ bùn thải số 5 MH3 (diện tích 1,0 ha), đất nền canh tác cà phê lân cận và bãi thải thuộc đề tài nghiên cứu trước đó. Phương pháp lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt Thông tư số 32/2011/TT-BTNMT, TCVN 5297:1995 và TCVN 7538-2:2005.

Các mẫu đất được phân tích tại Phòng thí nghiệm thuộc Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Các phương pháp phân tích tiêu chuẩn bao gồm: đo pH bằng điện cực thủy tinh (pHH2O và pHKCl); xác định hàm lượng cacbon hữu cơ (OC) bằng phương pháp Walkley-Black; đạm tổng số bằng phương pháp Kjeldahl; lân tổng số và lân dễ tiêu bằng phương pháp so màu quang phổ; kali tổng số và kali dễ tiêu bằng quang kế ngọn lửa; dung tích CEC và canxi trao đổi (Ca2+) bằng phương pháp amoni axetat; độ mặn (Cl-) bằng phương pháp chuẩn độ bạc nitrat; các kim loại nặng Cu, Pb, Zn được phân tích bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (AAS) đối chiếu với QCVN 03-MT:2015/BTNMT quy định cho đất nông nghiệp. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính chuẩn hóa, độ lặp lại cao và phản ánh chính xác động thái dinh dưỡng trên nền đất mỏ nhiệt đới. Quá trình quan trắc được chia làm 3 đợt tương ứng với các thời điểm khí hậu đặc trưng: cuối mùa mưa (tháng 11/2017), giữa mùa mưa (tháng 9/2018) và giữa mùa khô (tháng 01/2019).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hàm lượng kim loại nặng trong đất tại cả hai mô hình hoàn phục MH1 và MH3 đều nằm trong giới hạn an toàn theo QCVN 03-MT:2015/BTNMT đối với đất nông nghiệp. Tại mô hình bãi thải MH1, hàm lượng đồng dao động từ 18,4 đến 32,6 mg/kg (ngưỡng cho phép là 100 mg/kg), chì dao động từ 12,1 đến 25,4 mg/kg (ngưỡng cho phép là 70 mg/kg), và kẽm dao động từ 45,2 đến 78,5 mg/kg (ngưỡng cho phép là 200 mg/kg). Tương tự, tại mô hình hồ bùn thải MH3, hàm lượng Cu, Pb, Zn đều thấp hơn từ 2,5 đến 4 lần so với quy chuẩn, chứng minh bùn quặng đuôi sau tuyển rửa không gây ô nhiễm kim loại nặng cho môi trường đất.

Thứ hai, đặc tính hóa học và độ phì nhiêu tầng đất mặt tại mô hình bãi thải MH1 có sự chuyển biến tích cực sau 12 tháng cải tạo. Nhờ áp dụng đồng bộ 3 kg phân hữu cơ/hố, phân NPK (0,1 kg/cây) cùng 0,06 kg chất giữ ẩm AMS và 36 g/ha chất chống xói mòn PAM, hàm lượng cacbon hữu cơ (OC) tầng 0-15 cm tăng từ 1,12% lên 2,45%, đạm tổng số tăng 42% đạt mức 0,16%, dung tích hấp thu CEC tăng từ 8,2 meq/100g lên 14,6 meq/100g đất, và độ chua cải thiện với pHH2O tăng từ 4,35 lên 5,15.

Thứ ba, tại mô hình hồ bùn thải MH3, sự kết hợp giữa Keo lai (2.200 cây/ha), Tràm Úc (2.200 cây/ha) và cây họ đậu Sục sạc (2.200 cây/ha) đã giúp cố định nền bùn lỏng, tạo độ tơi xốp cho lớp mặt. Hàm lượng lân dễ tiêu tăng khoảng 35% so với mẫu bùn nguyên trạng, đạt mức 4,8 mg/100g đất. Rễ cây họ đậu phát triển mạnh giúp gia tăng vi sinh vật cố định đạm tự nhiên trong môi trường bùn quặng.

Thứ tư, chỉ số chất lượng đất tổng hợp (SCLĐ) tại mô hình MH1 tăng từ 0,38 (mức kém) lên 0,62 (mức trung bình khá), trong khi mô hình MH3 tăng từ 0,31 lên 0,55, phản ánh sự phục hồi rõ rệt của hệ sinh thái đất mỏ theo thời gian thử nghiệm.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng hàm lượng hữu cơ và dung tích CEC tại mô hình bãi thải MH1 bắt nguồn từ tác động hiệp đồng giữa sinh khối lá rụng của thảm phủ Cúc đồng, Điều nhuộm và chế phẩm giữ ẩm AMS giúp duy trì độ ẩm ổn định trong mùa khô Tây Nguyên (lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 10-15% cả năm). So sánh với các nghiên cứu hoàn thổ mỏ than tại Quảng Ninh hay cải tạo bãi thải bauxite ở Australia và Ấn Độ, tốc độ phục hồi độ phì tại Tân Rai diễn ra tương đối nhanh nhờ điều kiện nhiệt độ bình quân 22 độ C và lượng mưa lớn 2.869 mm/năm thúc đẩy quá trình mùn hóa.

Biến động của các chỉ tiêu hóa lý và kim loại nặng qua 3 đợt quan trắc có thể được mô hình hóa trực quan thông qua các biểu đồ đường thể hiện xu hướng tăng dần của chất hữu cơ, đạm tổng số và chỉ số SCLĐ, kết hợp bảng ma trận phân cấp chất lượng đất theo 5 bậc màu tiêu chuẩn. Sự khác biệt giữa đất hoàn thổ có bổ sung vật liệu AMS/PAM và đất bãi thải chưa hoàn thổ cho thấy vai trò quyết định của kỹ thuật bồi hoàn tầng phủ dày từ 0,8 đến 1,2 m trong việc tái tạo môi trường sống cho thực vật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật hoàn thổ bãi thải: Doanh nghiệp khai khoáng cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng thực hiện bóc tách riêng lớp đất mặt giàu hữu cơ (dày tối thiểu 0,5 m) và lưu trữ đúng kỹ thuật; sau khai thác phải hoàn thổ lớp phủ đạt độ dày từ 0,8 đến 1,2 m, san gạt độ dốc dưới 15 độ và thi công rãnh thoát nước chống xói mòn với mục tiêu hoàn thành 100% diện tích khai trường hoàn thổ theo giai đoạn 2020-2025. Chủ thể thực hiện là Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng và Tập đoàn TKV.

Thứ hai, nhân rộng cơ cấu cây trồng đa tầng kết hợp vật liệu giữ ẩm tiên tiến: Áp dụng đại trà mô hình trồng Thông Caribê (mật độ 1.100 cây/ha) xen Điều nhuộm (370 cây/ha) và Cúc đồng (730 cây/ha) cho đất bãi thải; trồng Keo lai và Tràm Úc (mật độ 2.200 cây/ha) xen Sục sạc cho hồ bùn thải. Bắt buộc sử dụng chất giữ ẩm AMS với định lượng 0,06 kg/hố và chất chống xói mòn PAM 36 g/ha nhằm nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng lên trên 85% trong 2 năm đầu.

Thứ ba, quy hoạch phân vùng sử dụng đất hậu khai thác theo chuỗi giá trị: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Sở Tài nguyên và Môi trường cần đưa diện tích mỏ đã hoàn phục vào quy hoạch đất lâm nghiệp kết hợp cây công nghiệp (trồng cà phê, chè sau 5-7 năm cải tạo), nâng cao giá trị kinh tế đất đai thêm 20-30% so với đất lâm nghiệp đơn thuần.

Thứ tư, duy trì mạng lưới quan trắc chất lượng đất và nước ngầm định kỳ: Đơn vị quản lý mỏ thực hiện quan trắc 6 tháng/lần đối với 12 chỉ tiêu dinh dưỡng và hàm lượng kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, As, Cd) trong suốt chu kỳ 10 năm sau khi đóng cửa mỏ, đảm bảo số liệu minh bạch gửi về cơ quan quản lý môi trường địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Tây Nguyên): Sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), phê duyệt Đề án cải tạo phục hồi môi trường và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật hoàn thổ mỏ bauxite lộ thiên.

Thứ hai, các doanh nghiệp và tập đoàn khai khoáng (Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Khoáng sản): Vận dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật hoàn thổ, định mức phân bón, liều lượng chất giữ ẩm AMS và cơ cấu tập đoàn cây trồng để tối ưu hóa chi phí phục hồi môi trường tại các khai trường Tân Rai, Nhân Cơ.

Thứ ba, các trường đại học, viện nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Thổ nhưỡng, Quản lý Đất đai: Khai thác bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm 41 mẫu quan trắc, phương pháp phân tích thổ nhưỡng và quy trình tính toán chỉ số SCLĐ phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái phục hồi.

Thứ tư, các tổ chức tư vấn môi trường và lập quy hoạch mỏ: Ứng dụng các giải pháp kỹ thuật và kinh nghiệm thực tế của luận văn để lập phương án đóng cửa mỏ, cải tạo hồ chứa quặng đuôi và quy hoạch sử dụng đất sau khai thác khả thi cho các dự án khoáng sản trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Bùn thải sau tuyển rửa quặng bauxite tại Tân Rai có chứa hóa chất độc hại hay vượt ngưỡng kim loại nặng không? Bùn thải quặng đuôi tại Tân Rai là sản phẩm phát sinh từ quá trình dùng nước cao áp tuyển rửa cơ học tách quặng thô, không sử dụng hóa chất độc hại. Kết quả phân tích AAS cho thấy hàm lượng các kim loại nặng Cu (22,4-35,8 mg/kg), Pb (14,2-28,6 mg/kg) và Zn (52,1-81,4 mg/kg) đều thấp hơn nhiều so với giới hạn của QCVN 03-MT:2015/BTNMT quy định cho đất nông nghiệp.

Tại sao mô hình bãi thải MH1 lại kết hợp Thông Caribê, Điều nhuộm và Cúc đồng? Cơ cấu này tạo nên cấu trúc rừng đa tầng bền vững: Thông Caribê đóng vai trò cây gỗ tán cao lâu năm tạo cảnh quan và giữ đất; Điều nhuộm là cây nông nghiệp tán trung tạo sinh khối và cho giá trị kinh tế; Cúc đồng là cây thân thảo phủ sát mặt đất giúp giữ ẩm, chống xói mòn và cung cấp chất hữu cơ nhanh chóng cho tầng đất mặt.

Chỉ số chất lượng đất SCLĐ trong nghiên cứu được tính toán như thế nào? Chỉ số SCLĐ được xây dựng dựa trên phương pháp tích hợp đa thông số hóa lý đơn lẻ gồm pH, cacbon hữu cơ, đạm tổng số, lân dễ tiêu, kali trao đổi và dung tích CEC. Mỗi thông số được chuẩn hóa thành điểm số từ 0 đến 1 dựa trên thang đo nông hóa chuẩn, sau đó tổng hợp thành chỉ số chung phản ánh mức độ phục hồi của đất.

Sau bao lâu kể từ khi hoàn thổ, đất bãi thải khai thác bauxite có thể tái canh tác cây nông nghiệp lâu năm? Trong điều kiện hoàn thổ lớp đất mặt đạt độ dày trên 0,8 m và áp dụng đầy đủ quy trình cải tạo bằng cây họ đậu kết hợp phân hữu cơ và chất giữ ẩm, đất cần thời gian phục hồi sinh thái từ 3 đến 5 năm để đạt chỉ số SCLĐ trên 0,60, đảm bảo điều kiện thổ nhưỡng an toàn cho canh tác cây công nghiệp như cà phê, chè hoặc điều.

Chất giữ ẩm AMS và chất chống xói mòn PAM có vai trò gì đối với đất hoàn thổ Tân Rai? Vùng mỏ Tân Rai có mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa rất thấp. Chất giữ ẩm AMS (0,06 kg/hố) giúp hấp phụ và giữ nước mưa trong vùng rễ cây, trong khi polyme PAM (36 g/ha) liên kết các hạt đất mịn, chống rửa trôi và xói mòn bề mặt do mưa lớn trong mùa mưa ngập úng.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng thành công hàm lượng 12 chỉ tiêu hóa lý và 3 kim loại nặng (Cu, Pb, Zn) tại 02 mô hình hoàn phục môi trường đất mỏ bauxite Tân Rai qua 3 đợt quan trắc từ năm 2017 đến năm 2019.
  • Xác nhận các bãi thải sau hoàn thổ và hồ bùn thải quặng đuôi đều có hàm lượng kim loại nặng nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 03-MT:2015/BTNMT đối với đất nông nghiệp.
  • Chứng minh tính ưu việt của giải pháp kết hợp cây lâm nghiệp bản địa (Keo lai, Tràm Úc, Thông Caribê), cây che phủ (Cúc đồng, Sục sạc) với chất giữ ẩm AMS và chất chống xói mòn PAM, giúp nâng chỉ số chất lượng đất SCLĐ từ 0,38 lên 0,62 tại mô hình bãi thải MH1.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật hoàn thổ tầng phủ dày 0,8-1,2 m, nhân rộng cơ cấu cây trồng, quy hoạch đất nông lâm nghiệp sau khai thác và thiết lập mạng lưới quan trắc 6 tháng/lần.
  • Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2020-2025 là mở rộng thử nghiệm trên quy mô 100 ha bãi thải, đánh giá chuyên sâu hệ vi sinh vật đất và hoàn thiện sổ tay hướng dẫn kỹ thuật hoàn thổ bauxite cho toàn vùng Tây Nguyên. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai khoáng cần nhanh chóng ứng dụng quy trình hoàn phục này để hiện thực hóa mục tiêu phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản hài hòa với bảo vệ môi trường bền vững.