ĐẶT VẤN ĐỀ Sản xuất ngô thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 20 năm gần đây ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất là cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu. Năm 1961, năng suất ngô trung bình thế giới đạt 19 tạ/ha, năm 2014 đạt 56,64 tạ/ha và sản lượng 1. Ở Việt Nam những năm 1960 năng suất ngô đạt 1,1 tấn/ha, cho đến đầu những năm 1980 năng suất ngô vẫn chỉ dừng lại ở mức 1,1 tấn/ha. Việc sử dụng các giống ngô địa phương cùng với kỹ thuật canh tác lạc hậu dẫn đến năng suất ngô Việt Nam trong giai đoạn này thấp, sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến quan trọng từ sau năm 1990 với việc ứng dụng các giống ngô lai vào sản xuất và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác mới đã đưa năng suất ngô tăng một cách đáng kể.
Năm 2015, diện tích ngô nước ta là 1.300 ha, năng suất 4,48 tấn/ha và sản lượng là 5,28 triệu tấn cao nhất từ trước tới nay (Tổng cục Thống kê, 2015). Tuy nhiên, hiện nay sản lượng ngô sản xuất ở trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm chúng ta vẫn phải nhập hàng triệu tấn ngô thương phẩm để phục vụ cho chăn nuôi trong nước. Năm 2015, Việt Nam đã nhập 7,5 triệu tấn ngô với tổng giá trị 1,6 tỷ USD (Cục Xúc tiến Thương mại, 2016). Mặc dù đã đạt được những kết quả rất quan trọng như trên, nhưng sản xuất ngô nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra: 1) Năng suất vẫn thấp so với trung bình thế giới (khoảng 81%), và rất thấp so với năng suất thí nghiệm; 2) Giá thành sản xuất còn cao; 3) Sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, 4) Sản phẩm từ ngô còn đơn điệu; 5) Công nghệ sau thu hoạch chưa được chú ý đúng mức.
Với mục tiêu tăng năng suất, giảm chi phí và bảo vệ môi trường sinh thái nên từ khi những giống ngô lai đầu tiên được đưa vào sản xuất, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác mới cho phù hợp với thực tiễn. Nhờ vậy, sản lượng ngô nước tađã tăng nhiều lần kể từ khi bắt đầu sử dụng giống lai đến nay.Nhìn chung 60% sự tăng năng suất là do cải thiện di truyền (Duvick, 1992) và 40 % là nhờ cải tiến kỹ thuật nông học 1 (Cardwell, V. Hiện nay, việc đột phá năng suất do cải tiến di truyền gần như là không đáng kể, để có thể phát huy hết tiềm năng của giống thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác mới là rất cần thiết. Nói về nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác không thể không nhắc đến mật độ, khoảng cách và phân bón đây là hai yếu tố quan trọng nhất trong việc tăng năng suất và tăng hiệu quả kinh tế.
Để làm được điều này thì việc sử dụng phân bón một cách hợp lý là vô cùng quan trọng. Các nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, đạm (N) là nguyên tố hạn chế chính đến năng suất ngô. Tính chung trên toàn thế giới, hiệu suất sử dụng đạm của cây lấy hạt nói chung và ngô nói riêng chỉ đạt 33%, có tới 67% lượng đạm bị mất đi, tương ứng với 15,9 tỷ USD (Johnson, 1999).Vì vậy, cần có các nghiên cứu cụ thể về mật độ gieo trồng, liều lượng, loại phân bón thích hợp cho từng giống ngô, trên từng loại đất để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón cho cây ngô và các loại cây trồng hàng năm khác. Trước tầm quan trọng của cây ngô đối với nền nông nghiệp, Nhà nước ta đã thành lập Viện Nghiên cứu Ngô từ rất sớm với nhiệm vụ nghiên cứu về cây ngô và các cây trồng luân canh với ngô.
Sau 45 năm xây dựng và phát triển, hiện nay Viện Nghiên cứu Ngô đã chọn tạo thành công nhiều giống ngô lai mới có năng suất cao, chống chịu tốt phục vụcho sản suất. Tuy nhiên, để sản xuất ngô đem lại hiệu quả cao thì ngoài giống tốt ta phải kèm theo quy trình canh tác phù hợp nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế. Trong bộ giống ngô lai của Viện Nghiên cứu Ngô hiện nay, giống ngô H119 là giống ngô mới, có triển vọng, có nhiều đặc điểm tốt như chịu hạn, chống đổ, thích ứng rộng, năng suất cao. Giống ngô H119 đang trong quá trình sản xuất thử, để hoàn thiện kỹ thuật canh tác nhằm phát huy hết tiềm năng của giống, phục vụ tốt cho sản xuất trên diện rộng khi giống được công nhận chính thức và thương mại hoá thì việc hoàn thiện quy trình thâm canh cho giống là hết sức cần thiết.
Đề tài “Xác định mật độ và loại phân bón phù hợp cho giống ngô lai H119 tại Đan Phượng – Hà Nội” nằm trong chương trình hoàn thiện quy trình thâm canh giống phục vụ sản xuất đạt hiệu quả cao. MỤC TIÊU Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ khoảng cách và loại phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống ngô H119, tìm ra công thức mật độ và loại phân bón phù hợp để khuyến cáo cho sản xuất trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận 1. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Ý nghĩa khoa học: Bổ sung các dữ liệu cơ bản trong nghiên cứu về mật độ khoảng cách và phân bón thích hợp cho cây ngô nói chung và cho giống H119 nói riêng tại địa bàn Hà Nội.
Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được mật độ trồng khoảng cách và loại phân bón thích hợp cho giống ngô H119 trong thực tiễn sản xuất góp phần nâng cao năng suất ngô tại địa phương. - Góp phần mở rộng quy mô diện tích trồng và nâng cao hiệu quả của giống tại địa bàn Hà Nội. - Hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác giống ngô H119 tại những vùng thâm canh của Hà Nội. Đối tượng Giống ngô H119 và các loại phân bón 3 PHẦN 2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2. VAI TRÒ CỦA CÂY NGÔ Đã từ lâu, ngô vốn là nguồn lương thực cho nhiều dân tộc trên thế giới, ngô được dùng trong các bữa ăn hàng ngày ở Mehico, Ấn Độ, Philippin và nhiều nước khác ở Châu Phi, Châu Á và Châu Âu (Cao Đắc Điểm, 1998). Tất cả các nước trồng ngô đều dùng ngô làm lương thực ở các mức độ khác nhau, toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho con người, các nước Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính. Ở Việt Nam tỷ lệ sử dụng ngô làm lương thực chiếm 15- 20%, ngô là cây lương thực quan trọng vì nó có thành phần dinh dưỡng cao hơn gạo (Trần Hữu Miện, 1987).
Như vậy, cây ngô được coi là cây trồng chính, nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội loài người Có thể nói ngô là nguồn nguyên liệu đặc biệt để chế biến thức ăn cho gia súc, nhất là thức ăn công nghiệp, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô. Ở các nước phát triển, phần lớn sản lượng ngô được dùng cho chăn nuôi: Mỹ 76%, Bồ Đào Nha 91%, Italia 93%, Trung Quốc 76%, Thái Lan 96%. Ngoài việc cung cấp chất tinh hiện nay cây ngô còn được dùng làm thức ăn xanh bò sữu, dê, cừu. Khi đời sống của người dân phát triển thì nhu cầu thịt, trứng, sữa và các sản phẩm chăn nuôi khác ngày tăng do đó đòi hỏi lượng ngô để cung cấp làm thức ăn cho chăn nuôi ngày càng tăng.
Hiện nay ở Việt Nam hơn 70% sản lượng ngô được dùng cho mục đích chăn nuôi. Theo Đông y, các bộ phận cây ngô đều được dùng làm thuốc với công dụng chính là lợi thủy, tiêu thũng, trừ thấp, góp phần trừ một số bệnh như: Bướu cổ, sốt rét. Theo Tây y, ngô chứa nhiều kali, có tác dụng tăng bài tiết, giảm bililubin trong máu. Nhiều tài liệu cho thấy ngô có lợi cho hệ tiêu hóa, tim mạch, tiết niệu, sinh dục, chống oxy hóa, lão hóa, ung thư (Võ Thị Gương và Karlh Dick man, 1998).
Hiện nay việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch ngày một nhiều chính vì vậy nhiều loại nhiên liệu đang đứng trên bờ vực cạn kiệt một cách nhanh chóng.Việc nghiên cứu để sản xuất ra các loại nhiên liệu mới phục vụ cho đời 4 sống con người là hết sức tất yếu. Những năm trở lại đây việc sử dụng xăng sinh học đã không còn lạ lẫm ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới.Ngô đã được sử dụng làm nguyên liệu chính để sản xuất xăng sinh học vì nhiều ưu điểm nổi bật của nó như sinh trưởng nhanh, năng suất sinh khối lớn. Ngoài các mục đích trên, cây ngô còn được dung làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu ngô, bánh kẹo…Từ ngô, người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công nghiệp, lương thực thực phẩm, công nghiệp dược, làm đệm hay đồ trang trí mỹ nghệ. Ở Việt Nam, tỷ lệ ngô sử dụng cho mục đích này khoảng 5 – 10% (Ngô Hữu Tình, 1997).
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, SỬ DỤNG NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới + Những thành tựu Từ những năm đầu thế kỷ 21 đến nay đời sống vật chất của con người không ngừng được nâng cao dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm cũng ngày một tăng. Trong các cây lương thực cây ngô chỉ xếp thứ ba nhưng lại là cây trồng cung cấp nguyên liệu chính cho chăn nuôi hiện nay. Việc sử dụng ngô phục vụ cho chăn nuôi cũng như làm lương thực thực phẩm của con người cũng tăng một cách đáng kể bình quân hàng năm diện tích cũng như năng suất ngô thế giới tăng 2,2 % đây là một dấu hiệu tích cực cho người trồng ngô của thế giới (Arnon, 1974).
Theo số liệu của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Thế giới (FAO, 2015), sản xuất ngô thế giới đạt diện tích 183,32 triệu ha, năng suất 56,64 tạ/ha và sản lượng 1. Trong khi đó, lúa mì có diện tích lớn nhất trong 3 cây lương thực chính của nhân loại, với 221,6 triệu ha, nhưng năng suất đạt thấp nhất 32,89 tạ/ha và sản lượng cũng đạt thấp nhất với 728,96 triệu tấn. Còn lúa nước có diện tích 163,24 triệu ha, năng suất đạt 45,38 tạ/ha và sản lượng đứng thứ 2 với 740,95 triệu tấn (FAO, 2015). Trong hơn 50 năm qua, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng cao nhất về năng suất và sản lượng trong ba cây lương thực chủ yếu.