đặt vấn đề. nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu của đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày các nội dung về marketing dịch vụ ngân hàng, marketing nội bộ, cam kết tổ chức, hình ảnh thương hiệu. Ngoài ra, còn trình bày một số nghiên cứu trước đây để đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu cho đề tài ˆ -_ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: gồm 'quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu định tính, định lượng, thiết kế thang đo.
-_ Chương 4: KẾt quã nghiên cứu: trình bày kết quả của quá trình phân tích, xử lý - số liệu và báo cáo kết quả nghiên cứu. o> Chương 5: Kết luận và kiến nghị: đưa ra các kết luận và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phan gia tăng cam kết tổ chức của nhân viên, chỉ ra một số hạn chế của đề tài để đưa ra một số đề nghị cho những nghiên cứu tiếp theo. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương hai trình bày về cơ sở lý thuyết, cụ thể gồm: các khái niệm có liên quan đến dé tài như marketing ngân hàng, marketing nội bộ, cam kết tổ chức, hình ảnh doanh nghiệp. Đông thời, cũng lượt khảo một số nghiên cứu trước đây về các để tài có liên quan mà tác giả đã tham khảo qua đó xây đựng và phát triển các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
- Khái niệm về marketing dịch vụ ngân hàng — đặc điểm của marketing dịch vụ ngân hàng Sản phẩm bao gồm hàng hóa dịch vụ, đặc thù của 02 loại sản phẩm này khác ___. nhau dẫn đến marketing cũng chia thành 02 mảng đặc thù gồm marketing hàng hóa và marketing dịch vụ. Theo Nguyễn Thị Mùi (2009), dịch vụ có 04 thuộc tính cơ bản như sau: — Tính vô hình: tức là không định hình được, người ta không thể sờ thấy, nhìn thấy được trước khi tiêu dùng chúng. Chính vì vậy làm cho khách hàng thường khó xác định được giá trị cũng như đặc tính của dịch vụ mang lại.
Nhà cung cấp dịch vụ _ cần “hữu hình hóa” các đặc điểm lợi ích của dịch vụ nhằm mô tả cho khách hàng một cách rõ nét, cụ thể và thuyết phục những lợi ích mà dịch vụ mang lại cho khách hàng. — Tính không ỗn định về chất lượng: Vì dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp, vào thời gian và địa điểm cung cấp nên chất lượng khó kiểm soát và có biên độ dao động rộng. Quan trọng nhất là người cung cấp - đội ngũ nhân viên những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Chính vì vậy các nhà cung cấp dịch vụ thường quan tâm đến các công tác đào tạo huấn luyện cho nhân viên, xây dựng các hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cho đội ngũ nhân viên, xây dựng và kiểm tra quy trình làm việc, thường xyên đánh giá mức độ hài lòng và những góp ý của khách hàng đề khắc phục và điều chỉnh.
s — Tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc: Tức là dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó cho đù đó là con người hay máy móc. Các nhà cung cấp dịch vụ có thể mở rộng và làm việc: với số đông người, làm giảm thời gian của dịch vụ, mở rộng mạng lưới phân phối qua đào tạo nhiều người cung cấp dịch vụ hơn. — Tính không lưu trữ được: tức là dịch vụ không có khả năng lưu trữ, cất trữ được. Các nhà cung cập dịch vụ sẽ không phải tính bài toán lưu kho, tồn kho, không hoàn trả địch vụ và bán lại địch vụ, tuy nhiên họ sẽ gặp khó khăn khi tính toán về cân bằng dịch vụ khi mà dịch vụ không ổn định, mang tính thời điểm.cung cấp dịch vụ phải thường sử dụng chiến lược điều hòa cung — cầu bằng các chiến lược như phân biệt giá, sử dụng dịch vụ hỗ trợ bỗ sung, thực hiện hệ thống đặt hàng trước để kiểm soát nhu cầu, thực hiện chế độ hợp đồng lao động theo thời vụ, khuyến khích khách hàng tự đáp ứng một phần nhu cầu của mình, tăng cường năng lực để đáp ứng nhu cầu.
: Và ngành ngân hàng cũng nằm một trong số các dịch vụ, cũng có các đặc điểm của dịch vụ mà một số đặc thù riêng. Marketing dịch vụ ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quân lý ngân hàng, từ việc phát hiện nhu cầu của khách hàng đã chọn và thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống chính sách, biện pháp thích ứng có giá trị trong nhận thức của khách hàng so với đối thủ nhằm đạt các mục tiêu như đã dự kiến. Theo Trịnh Quốc Trung và ctg (2008), các đặc trưng của marketing ngân hàng: — Marketing ngân hàng là loại marketing dịch vụ: nó cũng bao gồm 04 đặc điểm của dịch vụ là vô hình, không thể tách rời của dịch vụ, không lưu trữ được, không ôn định và khó xác định chất lượng. — Hoạt động Marketing ngân hàng cần phải có những biện pháp đặc biệt để làm chủ tình thế nhằm hạn chế rủi ro — Hoạt động marketing ngân hàng rất đa dạng và phức tạp vì có nhiều sản phẩm dịch w .— Marketing ngân hàng là thường xuyên làm tốt hơn và có những sản phẩm mới độc đáo hơn để thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của khách hàng - = Marketing ngân hàng phải chú ý đến các yếu tế pháp lý để đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Khái niệm về marketing nội bộ — các yếu tố của marketing nội bộ 2. Thị trường nội bộ | Bắt kỳ một tổ chức nào cũng tồn tại song song 02 loại thị trường tương ứng với hai loại khách hàng, đó là thị trường bên ngoài và thị trường nội bộ. ~ Theo Jou va ctg (2008) thi trường nội bộ liên quan đến các nhân viên làm việc cho tổ chức và tat cả các hoạt động bên trong cần thiết để khuyến khích nhân viên thích nghỉ với thị trường bên ngoài. Đồng quan điểm.
với Jou va ctg, Tortosa va ctg (2009) cũng cho rằng thị trường nội bộ liên quan đến thị trường lao động và cam kết định hướng vào thị trường lao động của tổ chức. Tất cả các nhân viên là những khách hàng nội bộ, nghĩa là nhân viên vừa là khách hàng, vừa là nhà cung cấp, cùng phối hợp làm việc với nhau để cung cấp giá trị cho khách hàng bên ngoài. Mục tiêu định hướng của thị trường nội bộ là gắn kết và động viên nhân viên cùng hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Marketing trong tổ chức thường hướng tới thị trường bên ngoài.
Tuy nhiên, theo Zeithaml và ctg (2012), marketing trong các tổ chức gồm: marketing bên ngoài, marketing tương tác và marketing nội bộ.1: Marketing trong tổ chức Nguôn: Zeithaml và ctg (2012) — Marketing bên ngoài - Quá trình tạo lời hứa. Tức là thông qua các nỗ lực Marketing, tổ chức hứa với khách hàng bên ngoài về những gì họ có thể mong đợi và làm thế nào để chuyển được lời hứa đó đến với khách hang © — Marketing tương tác - Quá trình thực hiện lời hứa. Tức là quá trình khách hàng cảm nhận được lời hứa của doanh nghiệp thông qua việc tương tác với nhân viên. Chính vì thế, nhân viên cần được cung cấp đầy đủ các kỹ năng và sẵn sàng để phục vụ khách hằng như đã hứa.
— _ Marketing nội bộ - Quá trình phan đấu để giữ lời hứa. Tức là cách thức sắp xếp và vận hành tổ chức thông qua việc tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng, cung cấp các vận dụng công cụ làm việc cho nhân viên và các hoạt động marketing thích hợp để nhân viên dễ dàng thực hiện lời hứa với khách hàng. Marketing nội bộ. Khái niệm “Marketing nội bộ” xuất hiện vào đầu những năm 80 của thể kỷ 20 và được đề xuất như một giải pháp cho vấn đề làm thế nào để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng thông qua hai nghiên cứu thực tế của Berry (1981) và Gronroos (1981).
Trong mô hình của mình, Berry coi nhân viên như khách hàng nội bộ và nhìn nhận công việc như “sản phẩm” nội bộ. Từ đó, cố gắng tạo nên việc làm có thể thoả mãn nhu cầu và ước muốn của nhân viên trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức. Trong khi đó khác với Berry, Gronroos xem marketing nội bộ như một phương tiện tích hợp các chức năng hoạt động khác nhau, trong đó để cao sự liên kết giữa các phòng ban nhằm mục đích phục vụ khách hàng tốt hơn. Phương pháp thực hiện là tập trung tạo ra định hướng khách hàng trong nhân viên thông qua một quá trình ảnh hưởng của tô chức.
Sự giống nhau của Berry và Gronroos là cùng hướng tới việc cải tiến chất lượng dịch vụ nhưng khác nhau là phương pháp đẻ đạt được mục tiêu. / Mở rộng hơn hai khái niệm trên, Guven và Sadaklioglu (2012) định nghĩa marketing nội bộ là một chương trình toàn điện liên quan tới tuyển dụng, đào tạo, giao tiếp, tạo động lực và nỗ lực duy trì thái độ tích cực đối với công việc của nhân viên. Ngoài ra, Al-Hawary và ctg (2013) xem marketing nội bộ là một nỗ lực được - - lên kế hoạch sử dụng cách tiếp cận như marketing bên ngoài để vượt qua những kháng cự trong quá trình thay đổi và sắp xếp lại của tổ chức. Mục đích giúp nhân viên nhận ra giá trị của tô chức từ đó bị thu hút hơn vào công việc, gắn bó hơn và có động lực làm việc hơn.
Đồng quan điểm với Al = Hawary và ctg (2013), Kim (2013) xem marketing nội bộ là một chiến lược liên quan đến việc thành lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ bên trong ở mọi cấp bậc trong tổ chức. Khi áp dụng chiến lược nay, nhân viên có những quyền hạn nhất định và họ biết cách kết hợp chúng để tạo ra và lưu hành những nhận thức mới về tổ chức. Những nhận thức mới này sẽ tạo nên thách thức buộc doanh nghiệp thay đổi theo nhằm cung cấp dịch vụ chất lrợng hơn cho cả thị trường bên trong và bên ngoài tổ chức. ị Bên cạnh đó, Farias (2010) cho rằng marketing nội bộ là chìa khóa để nâng.
cao chất lượng địch vụ vì nó là một điều kiện cần để tiếp thị bên ngoài hiệu quả. Hoạt động marketing nội bộ phải phối hợp với hoạt động marketing bên ngoài. Tuy nhiên, marketing nội bộ nên được ưu tiên trước vì marketing nội bộ là một nhân tố thúc đây từ bên trong doanh nghiệp (Kotler và Keller, 2006).