Nghiên Cứu Lựa Chọn Mực Nước Bể Tháo Thiết Kế Hợp Lý Cho Trạm Bơm Lê Tính - Phú Thọ

Nghiên cứu xác định mực nước thiết kế bể tháo cho trạm bơm tiêu Lê Tính, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, đảm bảo hiệu quả và bền vững.

Trường đại học

Đại học Thủy lợi

Chuyên ngành

Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2021

158
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

II. MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

III. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình chung việc xác định mực nước bể tháo các trạm bơm tiêu trong cả nước

1.2. Bài báo và nghiên cứu liên quan

1.3. Phân tích sự tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước lũ ngoài sông

1.4. Đặc tính nguồn nhận nước tiêu và ảnh hưởng đến tính năng công tác của máy bơm

1.5. Tài liệu mực nước và tính toán xác suất xuất hiện

1.6. Những kết luận về mực nước bể tháo thiết kế

1.7. Tình hình hoạt động thực tế tại trạm bơm Lê Tính

1.8. Tổng quan về huyện Lâm Thao

1.9. Các yếu tố khí tượng thủy văn, mực nước trong khu vực

1.9.1. Nhiệt độ không khí

1.9.2. Độ ẩm tương đối của không khí

1.9.3. Nắng

1.9.4. Bốc hơi

1.9.5. Gió

1.9.6. Mưa

1.9.7. Mực nước và chất lượng nước sông Thao tại vị trí công trình

1.9.7.1. Mực nước lũ ngoài sông Thao tại vị trí công trình
1.9.7.2. Chất lượng nước

1.10. Tài nguyên thiên nhiên

1.11. Tình hình kinh tế xã hội

1.11.1. Về kinh tế

1.11.2. Dân số của các xã trong vùng

1.11.3. Diện tích đất tự nhiên các xã

1.11.4. Phát triển vùng cây ăn quả và giải pháp thực hiện

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Mực Nước Bể Tháo Trạm Bơm Phú Thọ

Hiện nay, Việt Nam có hơn 10.000 trạm bơm phục vụ tưới tiêu, đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp và kinh tế. Tuy nhiên, nhiều trạm bơm gặp vấn đề về thiết kế, quản lý, vận hành và hiệu quả sử dụng. Cần có nghiên cứu cụ thể để cải thiện hiệu quả cho từng loại máy bơm. Đặc biệt, các trạm bơm tiêu nước mưa ra sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Mã, sông Lam thường có mực nước sông dao động lớn. Việc xác định mực nước bể tháo thiết kế theo quy phạm hiện hành có thể dẫn đến mực nước thiết kế quá cao, gây lãng phí năng lượng. Nghiên cứu này tập trung vào việc lựa chọn mực nước hợp lý cho trạm bơm Lê Tính - Phú Thọ để đạt hiệu suất cao.

1.1. Tầm quan trọng của việc tối ưu mực nước bể tháo

Việc xác định mực nước bể tháo trạm bơm hợp lý là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu suất hoạt động và tiết kiệm năng lượng. Theo tài liệu gốc, việc sử dụng mực nước thiết kế quá cao dẫn đến máy bơm hoạt động ở hiệu suất thấp, gây lãng phí điện năng. Nghiên cứu này nhằm giải quyết vấn đề này bằng cách đề xuất phương pháp lựa chọn mực nước tối ưu, phù hợp với điều kiện thực tế của trạm bơm Lê Tính.

1.2. Giới thiệu về trạm bơm Lê Tính và khu vực nghiên cứu

Trạm bơm Lê Tính nằm trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 10 km. Khu vực này có nhiều lợi thế về nông nghiệp nhưng cũng chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lốc, sâu bệnh. Nghiên cứu này sẽ xem xét các yếu tố khí tượng thủy văn, mực nước sông Thao và đặc điểm kinh tế xã hội của khu vực để đưa ra giải pháp thiết kế trạm bơm Lê Tính phù hợp.

II. Vấn Đề Mực Nước Bể Tháo Cao Gây Lãng Phí Năng Lượng

Phương pháp xác định mực nước bể tháo thiết kế hiện nay thường dựa trên mực nước ứng với tần suất theo cấp công trình và có cùng tần suất xuất hiện với mưa lớn trong đồng. Cách tính này thường cho mực nước thiết kế cao hơn thực tế. Khi trạm bơm hoạt động, mực nước thực tế thường thấp hơn nhiều so với mực nước thiết kế. Việc sử dụng cột nước thiết kế để chọn máy bơm dẫn đến máy bơm làm việc với hiệu suất thấp, gây lãng phí tiêu thụ năng lượng trạm bơm. Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với các trạm bơm lớn có công suất cao.

2.1. Phân tích nguyên nhân mực nước bể tháo thiết kế cao

Theo GS.TS Hoàng Lâm Viện, vấn đề xác định mực nước bể tháo thiết kế chưa phù hợp liên quan đến thiết kế trạm bơm, chọn sử dụng máy bơm và quy hoạch trạm bơm phù hợp cho tiêu nước vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, mực nước bể tháo thiết kế được lấy bằng mực nước bình quân ngắn ngày cao nhất ứng với tần suất thiết kế tiêu 10% hoặc 20%. Điều này thừa nhận rằng mưa lũ trong đồng và mực nước ngoài sông trùng tần suất, một giả định không chính xác.

2.2. Hậu quả của việc lựa chọn mực nước bể tháo không hợp lý

Việc lựa chọn mực nước bể tháo không hợp lý dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực. Thứ nhất, máy bơm hoạt động ở hiệu suất thấp, gây lãng phí tiêu thụ năng lượng trạm bơm. Thứ hai, chi phí vận hành trạm bơm tăng lên. Thứ ba, tuổi thọ của máy bơm có thể bị giảm do hoạt động không đúng thông số kỹ thuật. Nghiên cứu này sẽ đề xuất giải pháp lựa chọn mực nước hợp lý để giảm thiểu những hậu quả này.

III. Cách Nghiên Cứu Lựa Chọn Mực Nước Bể Tháo Hợp Lý Nhất

Nghiên cứu này tiếp cận vấn đề từ thực tiễn quản lý hệ thống các trạm bơm tiêu, sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích từ tổng thể đến chi tiết. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm: điều tra, khảo sát thực địa; kế thừa các nghiên cứu liên quan; phân tích, thống kê; và mô hình mô phỏng. Mục tiêu là đánh giá phương pháp xác định mực nước hiện nay và đề xuất giải pháp lựa chọn mực nước hợp lý dựa trên kết quả tính toán chênh lệch mực nước bể tháo và mực nước sông.

3.1. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa tại trạm bơm Lê Tính

Việc điều tra, khảo sát thực địa tại trạm bơm Lê Tính là bước quan trọng để thu thập dữ liệu thực tế về điều kiện địa hình, thủy văn, và hoạt động của trạm bơm. Dữ liệu này sẽ được sử dụng để xây dựng mô hình mô phỏng và đánh giá hiệu quả của các phương án lựa chọn mực nước khác nhau. Quá trình khảo sát cần thu thập thông tin chi tiết về cấu trúc bể tháo trạm bơm, hệ thống máy bơm, và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trạm bơm.

3.2. Sử dụng mô hình mô phỏng thủy lực để tối ưu mực nước

Mô hình mô phỏng thủy lực trạm bơm là công cụ hữu ích để đánh giá ảnh hưởng của mực nước bể tháo đến hiệu suất hoạt động của trạm bơm. Mô hình này cho phép mô phỏng các kịch bản khác nhau và xác định mực nước tối ưu, đảm bảo máy bơm hoạt động trong vùng hiệu suất cao và tiết kiệm năng lượng. Cần sử dụng các phần mềm chuyên dụng để xây dựng và vận hành mô hình mô phỏng một cách chính xác.

IV. Đề Xuất Giải Pháp Thiết Kế Mực Nước Bể Tháo Tiết Kiệm

Để xác định cột nước địa hình hợp lý, cần nghiên cứu xác định mực nước bể tháo phù hợp sao cho máy bơm làm việc phần lớn thời gian trong vùng hiệu suất cao và năng lượng tiêu thụ ít nhất mà khối lượng công trình không tăng quá nhiều. Cần phân tích sự tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước lũ ngoài sông để đưa ra giải pháp phù hợp. Giải pháp cần xem xét đặc tính của nguồn nhận nước tiêu, bao gồm ao hồ, sông nội địa và sông thiên nhiên.

4.1. Phân tích tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước ngoài sông

Phân tích tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước ngoài sông là bước quan trọng để xác định tần suất xuất hiện đồng thời của hai yếu tố này. Theo tài liệu gốc, sự tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước ngoài sông của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình là không xảy ra. Do đó, việc xác định mực nước bể tháo thiết kế cần dựa trên phân tích xác suất riêng biệt cho từng yếu tố.

4.2. Đề xuất mực nước bể tháo dựa trên phân tích xác suất

Dựa trên phân tích xác suất mực nước sông, có thể xác định phạm vi mực nước thường xuất hiện và lựa chọn mực nước bể tháo thiết kế sao cho máy bơm hoạt động hiệu quả trong phạm vi này. Cần xem xét các yếu tố như chênh lệch mực nước giữa biên cao thấp, xác suất xuất hiện lớn nhất, và đường lũy tích xác suất mực nước để đưa ra quyết định cuối cùng. Mục tiêu là giảm thiểu tổn hao năng lượng và chi phí vận hành trạm bơm.

V. Ứng Dụng Thực Tế Đánh Giá Hiệu Quả Tại Trạm Bơm Lê Tính

Giải pháp lựa chọn mực nước cần được ứng dụng thực tế tại trạm bơm Lê Tính để đánh giá hiệu quả. Cần so sánh hiệu suất hoạt động, tiêu thụ năng lượng trạm bơm, và chi phí vận hành trước và sau khi áp dụng giải pháp mới. Kết quả đánh giá sẽ cung cấp cơ sở để điều chỉnh và hoàn thiện giải pháp, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả kinh tế.

5.1. So sánh hiệu suất trạm bơm trước và sau khi tối ưu mực nước

Việc so sánh hiệu suất trạm bơm trước và sau khi tối ưu mực nước là cách trực quan nhất để đánh giá hiệu quả của giải pháp. Cần thu thập dữ liệu về lưu lượng, cột áp, công suất tiêu thụ, và thời gian hoạt động của máy bơm để tính toán hiệu suất. So sánh kết quả trước và sau khi tối ưu sẽ cho thấy mức độ cải thiện về hiệu suất và tiết kiệm năng lượng.

5.2. Phân tích kinh tế Đánh giá chi phí và lợi ích của giải pháp

Phân tích kinh tế là bước quan trọng để đánh giá tính khả thi của giải pháp. Cần so sánh chi phí đầu tư (nếu có) với lợi ích thu được từ việc tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí vận hành. Phân tích cần xem xét các yếu tố như thời gian hoàn vốn, tỷ suất lợi nhuận, và giá trị hiện tại ròng để đưa ra kết luận về hiệu quả kinh tế của giải pháp.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Mực Nước Bể Tháo Bền Vững

Nghiên cứu lựa chọn mực nước bể tháo hợp lý cho trạm bơm Lê Tính có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và tiết kiệm năng lượng. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các trạm bơm khác trong khu vực và trên cả nước. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các mô hình dự báo mực nước chính xác và ứng dụng công nghệ tự động hóa để điều khiển trạm bơm một cách tối ưu.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đóng góp cho ngành thủy lợi

Nghiên cứu này đã đề xuất giải pháp lựa chọn mực nước bể tháo hợp lý cho trạm bơm Lê Tính, dựa trên phân tích tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước ngoài sông, cũng như phân tích xác suất mực nước. Giải pháp này có tiềm năng cải thiện hiệu suất hoạt động và tiết kiệm năng lượng cho trạm bơm. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả quản lý và vận hành các trạm bơm trong ngành thủy lợi.

6.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo về quản lý trạm bơm bền vững

Để quản lý trạm bơm một cách bền vững, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới, bao gồm mô hình dự báo mực nước chính xác, hệ thống điều khiển tự động, và giải pháp sử dụng năng lượng tái tạo. Hướng nghiên cứu cần tập trung vào việc giảm thiểu tác động đến môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, và đảm bảo an toàn cho người vận hành.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.Tình hình chung việc xác định mực nước bể tháo các trạm bơm tiêu trong cả nước. Trong gần 20 năm trở lại đây, khi việc sử dụng các máy bơm và trạm bơm để tiêu nước được phát triển ở đồng bằng Bắc Bộ, nhiều vấn đề thuộc về các khâu thiết kế công trình, chọn sử dụng máy bơm đã được giải quyết. Tuy nhiên cũng còn một số vấn đề khá cơ bản chưa được giải quyết thích đáng. Một trong những vấn đề trên là xác định cột nước địa hình thiết kế, trong đó yếu tố cần đề cập trước tiên là mức nước bể tháo thiết kế.

Bài báo “Một phương pháp xác định cao trình đáy cống xả của trạm bơm tiêu” tại tạp chí số 38- (3/2012) của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, Đỗ Minh Thu “. Nội dung bài báo này giới thiệu một phương pháp xác định cao trình đáy cống xả của trạm bơm tiêu dựa trên lý thuyết phân tích hệ thống và tối ưu hóa. Trong phương pháp này, hàm mục tiêu được chọn là tổng chi phí xây dựng và quản lý quy về năm đầu nhỏ nhất. Phương pháp đã được áp dụng cho một trạm bơm cụ thể trong thực tế và cho kết quả đáng tin cậy.

Phương pháp tính toán này nên được áp dụng trong công tác thiết kế các trạm bơm tiêu nước mưa ra sông, đặc biệt là các trạm bơm mà ở đó lũ ngoài sông không trùng tần suất xuất hiện với mưa trong đồng. Tác giả La Đức Dũng và Nguyễn Tuấn Anh tạp chí số 43-tháng 12/2013 có bài viết “Đánh giá bước đầu về phương pháp xác định mực nước thiết kế bể xả của các trạm bơm tiêu”. Nội dung Bài báo giới thiệu kết quả đánh giá bước đầu về phương pháp xác định mực nước thiết kế bể xả của các trạm bơm tiêu hiện nay dựa trên liệt tài liệu quan trắc thực tế của trạm bơm Nhân Hòa, Hà Nam. Qua so sánh mực nước bể tháo và mực nước sông trong thời gian từ năm 2004 đến năm 2011, bài báo đã đánh giá sơ bộ được mức độ Luận văn thạc sỹ Nguyễn Hồng Sơn – 21Q21 -4– lãng phí cột nước bơm dẫn đến điện năng bơm tăng thêm của trạm bơm do đáy kênh tháo được thiết kế thiên cao.

Tạp chí số 47-tháng 12/2014, hai tác giả La Đức Dũng và Nguyễn Tuấn Anh cũng có bài viết: “Đề xuất cách xác định cao trình thiết kế đáy kênh tháo của các trạm bơm tiêu” dựa trên nguyên tắc tiết kiệm năng lượng bơm. Qua xem xét so sánh tổng điện năng tiêu thụ của trạm bơm tương ứng với các trường hợp cao trình đáy kênh tháo được xác định ứng với mực nước bể tháo thiết kế tần suất 10%, 30%, 40%, 50% và 60% của hai trạm bơm tiêu thuộc hệ thống Bắc Nam Hà, bài báo kiến nghị để lựa chọn cao trình thiết kế đáy kênh tháo hợp lý nên xem xét một số tần suất thiết kế của mực nước bể tháo thay vì 10% như hiện nay. Điển hình nhất tại hội nghị khoa học năm 1984 - Đại học Thủy lợi GS.TS Hoàng Lâm Viện đã có bài báo nói về “Vấn đề kinh tế xác định mực nước trạm bơm tiêu vùng Đồng bằng Bắc Bộ”. Vấn đề xác định mực nước bể tháo thiết kế chưa phù hợp, liên quan đến vấn đề thiết kế trạm bơm, chọn sử dụng máy bơm và vấn đề quy hoạch của trạm bơm phù hợp cho tiêu nước vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Hiện nay mực nước bể tháo thiết kế được lấy bằng mực nước bình quân ngắn ngày (1,3,5,7 ngày) cao nhất ứng với tần suất thiết kế tiêu 10% hoặc 20%. Điều này thừa nhận rằng mưa lũ trong đồng và mực nước ngoài sông trùng tần suất. Phương pháp này không suất phát từ một cơ sở đúng đắn và cho kết quả không phù hợp với yêu cầu về kỹ thuật và nhất là về kinh tế. Tiến hành phân tích nghiến cứu sự tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước lũ ngoài sông.

Tài liệu được dùng để phân tích là tài liệu mực nước từ tháng 6 đến tháng 10 của các trạm đo mực nước trên các triền sông Luận văn thạc sỹ Nguyễn Hồng Sơn – 21Q21 -5– Hồng, Lô, Thái Bình và tài liệu mưa của các trạm đo mưa thuộc phạm vi miền đồng bằng: Hà Nội,Việt Trì, Sơn Tây. Bằng phương pháp phân tích tương quan, các tác giả đã đưa ra những kết quả sau: + Sự tương quan giữa mưa trong đồng và mực nước ngoài sông của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình là không xảy ra. Sự gặp gỡ mực nước bình quân ngắn ngày (1,3,5,7 ngày) lớn nhất ứng với tần suất p=10% ở ngoài sông với các trận mưa bình quân ngắn ngày (1,3,5 ngày) lớn nhất ứng với tần suất 10% trong đồng hầu như không xuất hiện. + Sự gặp gỡ giữa các trận mưa lớn nhất trong các năm thống kê và mực nước bình quân tháng lớn nhất ứng với tần suất 25% là 26% -:- 42% và ứng với tần suất 50% là 41%-:- 58% tổng số các trận mưa xảy ra.

Sự gặp gỡ giữa các trận mưa lớn trong các năm thống kê và mực nước bình quân vụ ứng với tần suất 25% là 32% -:- 58% và ứng với tần suất 50% là 47% -:- 78% các trận mưa lớn trong năm. Để giải quyết vấn đề đó các tác giả tiến hành nghiên cứu đặc tính của nguồn nhận nước tiêu ở vùng đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình. Đặc tính nguồn nhận nước tiêu ảnh hưởng đến tính năng công tác của máy bơm Nguồn nhận nước tiêu gồm: nguồn nhận nước tiêu là ao hồ, sông nội địa và nguồn nhận nước tiêu là sông thiên nhiên. Thực tế ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nguồn nhận nước tiêu là ao hồ và sông nội địa (sông Bắc Hưng Hải, sông sông Nhuệ…) có tính chất hạn chế và chịu ảnh hưởng của mực nước các sông thiên nhiên.

Vì vậy số lượng trạm bơm tiêu đề ra nguồn nhận nước tiêu trên không nhiều và thường nhỏ. Nguồn nhận nước tiêu chủ yếu là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Để phân tích đặc tính các sông có ảnh hưởng đến tính năng công tác Luận văn thạc sỹ Nguyễn Hồng Sơn – 21Q21 -6– của máy bơm và trạm bơm, các tác giả dùng phương pháp phân tích xác suất cho từng trạm đo mực nước ở các sông. Số lần xuất hiện của 1 cấp Xác suất xuất hiện P% = Tổng số lần xuất hiện các cấp mực nước Với mỗi con sông, tùy theo nó dài hay ngắn mà chọn từ 2 -:- 6 trạm đo để tính toán.

Tài liệu mực nước từ tháng 6 đến tháng 10 của 33 trạm được chọn để tính toán được thu thập tại Cục kỹ thuật điều tra cơ bản thuộc Tổng cục khí tượng thủy văn. Các tài liệu đều đã được chỉnh biên và có liệt kê từ 17 năm trở lên (có 2 trạm 13 năm: Thắng Cương- sông Cầu, Cầu Sơn -Sông Thương) Những kết quả tính toán đã cho thấy: a/ Chênh lệch mực nước giữa biên cao thấp z của phạm vi mực nước thường xuất hiện ở các vùng giáp trung du khoảng 490 cm, ở các vùng giữa vào khoảng từ 100 -:- 400 cm và các vùng dọc theo bờ biển từ 25 -:- 100 cm. b/ Nếu lấy sông Hồng và sông Thái Bình làm trục chính (sông Đáy làm trục phụ) thì càng về hạ lưu, đường qua hệ mực nước z = f (P%) càng ổn định, xác suất xuất hiện lớn nhất ở vùng giáp trung du khoảng Pmax = 4,4 - 5,8 % và ở ven biển Pmax = 36,5 - 39,2 % (ứng với lũy tích xác suất P=50%). c/ Căn cứ vào đường lũy tích xác suất mực nước của sông, 80% mực nước xuất hiện từ các mực nước z = (0,6-1,7) Ztb - Với sông Hồng và sông Ninh Cơ từ mực nước z = ( 0,8 - 1,5) Ztb ; - Với sông Đáy và sông Thái Bình từ mực nước z = ( 0,7 - 1,7) Ztb ; - Với sông Cầu, sông Thương từ mực nước z = ( 0,6 - 1,7) Ztb ; Luận văn thạc sỹ Nguyễn Hồng Sơn – 21Q21 -7– - Với sông Đào Nam Định, sông Luộc từ mực nước z = ( 0,7 - 1,6) Ztb ; Sông Trà Lý từ mực nước z = (0,6 – 1,6) Ztb Những kết luận trên đã cho thấy rằng: +/ Nếu sử dụng mực nước bình quân ngắn ngày lớn nhất ứng với tần suất 10% làm mực nước bể tháo thiết kế như trước đây thì phần lớn thời gian trạm bơm tiêu sẽ làm việc với các mực nước bể tháo cao hơn nhiều so với mực nước nguồn nhận nước tiêu.

Điều này gây ra một tổn hao năng lượng đáng kể. +/ Để có thể bao trùm được phạm vi thường xuất hiện của mực nước nguồn nhận nước tiêu, các máy bơm được dùng đã tiêu nước cho các vùng ở đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình cần phải có phạm vi sử dụng với hiệu suất lớn ứng với sự thay đổi cột nước từ 2 -:- 4 m, lớn nhất là 5 m. Quan hệ giữa năng lượng tiêu hao với các mực nước bể tháo khác nhau. Phương pháp xác định là so sánh tổng năng lượng tiêu nước hàng năm của trạm bơm có mực nước bể tháo thiết kế lấy bằng mực nước có xác suất xuất hiện lớn nhất làm mực nước bể tháo thiết kế EPmax%.

Tính toán được thực hiện với năm có mực nước xuất hiện trung bình trong những năm thống kê, tức là nếu biểu thị t1 là thời gian cần tiêu nước trong năm ứng với mực nước bể tháo Zt1 và T là tổng thời gian cần tiêu trong năm. Ứng dụng quan hệ trên để tính toán cho các trạm bơm Vĩnh Trị, Nhâm Tràng và Vân Đình trên sông Đáy, trạm bơm Cốc Thành, sông Chanh trên sông Đào Nam Định, trạm bơm Hữu Bị, Như Trác và trạm bơm Hà Nội trên Luận văn thạc sỹ Nguyễn Hồng Sơn – 21Q21 -8– sông Hồng, trạm bơm Kim Bôi, Hiền Lương trên sông Cầu, trạm bơm Cống Sao trên sông Luộc. Kết quả tính toán cho thấy rằng nếu mực nước thiết kế Ztk xác định cao hơn mực nước trung bình thường xuất hiện ZPmax 20% thì năng lượng tổn hao thêm 5 -:- 15 %, nếu cao hơn 40% thì năng lượng tổn hao thêm 13 -:- 38 % và nếu cao hơn 60% thì năng lượng tổn hao thêm 23 -:- 64 %. Sự tăng giảm của vốn đầu tư xây dựng khi mực nước bể tháo thiết kế thay đổi Mực nước bể tháo càng thấp thì bể tháo càng đặt sâu, công trình càng đặt sâu, do đó vốn xây dựng càng tăng lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ