Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYET VE LOẠI TỪ 1. Loại từ và các đặc điểm chung của loại từ 1. Khái niệm loại từ Việc nghiên cứu loại từ trên thế giới bắt đầu muộn hơn so với các từ loại khác trong ngôn ngữ. Thuật ngữ classifiers được người ta nhắc đến khi nghiên cứu các ngôn ngữ khu vực Châu A như tiếng Thái, Mién Điện, tiếng Hán, tiếng Việt.
Và đã có thời người ta gọi các ngôn ngữ này là nhóm các ngôn ngữ loại từ. Sau đó người ta đã phát hiện ra thực ra hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có hiện tượng nay. Cho đến hiện nay loại từ (classifiers) đã được nghiên cứu khá can thận, chỉ tiết. Thực ra, đối với người VIỆt, với tiếng Việt, hiện nay còn tranh cãi nhiều về van dé là liệu có loại từ hay không, nhưng đối với các học giả Châu Âu thì classifiers là một khai niệm rõ ràng, một don vi ngôn ngữ đích thực, đây là đơn vi có cả nội dung và hình thức hay nói cách khác là có cả hình thức và nghĩa.
Samuel Johnson [229] định nghĩa: Loại tw - là một từ hoặc hình vị được dùng trong một số ngôn ngữ trong những ngữ cảnh xác định (như tính đếm) dé chi ra lóp ngữ nghĩa đang được nói đến. “Loại từ số là kiểu loại từ pho biến nhất. Chúng được goi là "số" bởi chúng luôn xuất hiện trong ngữ cảnh chỉ lượng, luôn là don vị ràng buộc đứng lién với một số từ hoặc từ định lượng. Trường hợp thứ hai là chúng xuất hiện trong ngữ cảnh có dai từ chỉ định và đôi khi xuất hiện với tính từ" [201].
Dường như chưa có ai nghi ngờ về tính chân thực của loại từ, có chăng, người ta nghỉ ngờ về khái niệm “classifier languages” và “non-classifier languages”. Nhưng theo Keith Allan trong công trình “classifiers” [147] thì ông cho rằng “Có lẽ tất cả các ngôn ngữ đều có loại từ;. nhưng có một số ngôn ngữ thích hợp với tên gọi là ngôn ngữ loại từ (classifier languages) hơn một số ngôn ngữ khác, chăng hạn như danh từ sở hữu tiếng Anh tương ứng một cách chính xác với các đơn vị từ trong tiêng Thái mà tât cả mọi người đêu công nhận đó là loại từ”. 17 Việc nghiên cứu về loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến nhằm làm rõ hơn nữa bức tranh chung về loại từ.
Có thể kế đến các quan điểm tiêu biểu sau: 1. Quan điểm của Allan Allan cho rằng loại từ (classifiers) là đơn vị có nguyên tắc kết hợp phố biến trong tat cả các ngôn ngữ: loại từ (classifers) kết hợp với từ định lượng, từ chỉ định. va kết hợp với danh từ [147]. Allan đã đưa ra 7 phạm trù được phân loại và tương ứng với nó là 7 kiểu loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới.
Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ có một hay một vài kiéu loại từ nhất định chứ không phải là tất cả. Nhưng mỗi loại từ lại không phải chỉ thuộc vào một phạm trù, mà có thể thuộc vào một vài trong SỐ 7 phạm trù này. Ông cho rằng loại từ biểu thị một số đặc điểm của nhận thức, tri nhận nhờ vào phân loại. Như chúng ta thấy, lí do mà các ngôn ngữ khác nhau về ho hàng, loại hình hay là xa nhau về địa ly vẫn có thé có các lớp danh từ tương tự nhau là bởi các cộng đồng có những cách phân loại, tri nhận hiện thực khách quan theo những cách tương tự nhau.
b) Chúng có nghĩa, loại từ chỉ ra một số đặc điểm nhận thức nỗi trội hoặc là các đặc điểm được gán cho các thực thể danh từ liên quan được chỉ ra (hoặc có thé chỉ ra). Theo Allan, tất cả các ngôn ngữ đều có loại từ, chứ không phải giống như quan niệm trước đây cho rằng có một số ngôn ngữ có loại từ, mà thuật ngữ tiếng Anh là “classifier languages”, nhưng một số ngôn ngữ sự thể hiện của loại từ điển hình hơn, do vậy, ông nhấn mạnh .có một số ngôn ngữ thích hợp hơn với việc gọi “ngôn ngữ có loại tir” [147, tr. Do vậy, về phương diện loại từ mà xét thì các ngôn ngữ chỉ khác nhau ở chỗ ngôn ngữ này có nhiều hay hay ít loại từ hơn ngôn ngữ kia. Tuy nhiên những ngôn ngữ có loại từ không điển hình như tiếng Anh cũng có thể gọi là không có loại từ.
18 Và thuật ngữ “ngôn ngữ không có loại từ” được hiểu với nội hàm như vậy. Theo ông, các ngôn ngữ có loại từ được phân biệt với các ngôn ngữ không có loại từ bằng 2 tiêu chí sau đây: a) Có ít nhất là một vài loại từ được giới hạn trong cấu trúc có chứa loại từ. b) Loại từ trong ngôn ngữ đó thuộc vào một/ một vài kiểu trong 4 kiểu sau: loại từ số, loại từ tương hợp, loại từ vi ngữ và loại từ nội vi (intra-locative). Từ quan niệm như vậy, Allan đã chia các ngôn ngữ trên thế giới thành 4 loại dựa vào sự xuất hiện của các kiều loại từ.
1- Các ngôn ngữ có loại từ số (numeral classifier languages): Kiểu loại từ số là loại từ bắt buộc phải xuất hiện trong hau hết cau trúc danh ngữ có số từ. Kiểu này được thé hiện điền hình trong tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Mién Điện. 2- Các ngôn ngữ có loại từ tương hợp (concordial classifier languages): tức là kiểu phụ tố gắn vào danh từ dé thé hiện ý nghĩa phân loại của loại từ, phụ tố ở đây thường là tiền tố. Thuộc kiểu này là một số ngôn ngữ Châu Phi (tiếng Bantu và Semi-Bantu) và các ngôn ngữ Australia.
3- Các ngôn ngữ có loại từ vị ngữ (predicate classifier languages): tức là loại từ kết hợp với động từ chỉ sự vận động, vi tri ở trong câu. Thuộc kiểu này có các ngôn ngữ Navajo (của các thé dân Bắc Mỹ) va các ngôn ngữ Athapaskan. 4- Các ngôn ngữ có loại từ nội vị (intra-locative classifier languages): đây là kiểu loại từ (bắt buộc) kết hợp với danh từ trong các cấu trúc diễn dat vị trí. Kiểu loại từ này có mặt chỉ trong 3 ngôn ngữ: tiếng Toba, tiếng Nam Mỹ và Eskimo.
Quan điểm của Aikhenvald Theo Aikhenvald [146], hau hết các ngôn ngữ đều có một số các phương tiện ngữ pháp dé phân loại danh từ. Thuật ngữ “loại từ” (classifiers) được bà dùng trong công trình của mình như một cai 6 dán nhãn cho phạm vi mở rộng của các phương pháp phân loại danh từ. Các kiểu loại từ khác nhau có thể được phân biệt bởi các trạng thái ngữ pháp, mức độ của sự ngữ pháp hoá, điều kiện sử dụng, ngữ nghĩa, các kiểu nguồn gốc, phương thức đạt được, và các xu hướng mat đi của loại từ. Bà phân chia loại từ thành các kiểu: 19 1.
Loại từ danh từ: đây là những loại từ chỉ có thé được dùng dé phân lớp danh từ. Loại từ số: là các hình vị đặc biệt chỉ xuất hiện bên cạnh số từ, danh từ, từ định lượng nhằm phân loại danh từ dựa vào hình dáng, kích cỡ và các đặc điểm vốn có khác. Loại từ động từ: xuất hiện với động từ, nhưng chúng phân lớp danh từ, rất điển hình trong chức năng S (chủ ngữ nội động) hoặc O (b6 ngữ trực tiếp), bởi các đặc điểm về hình dáng, độ chắc, và tính động vật (animacy). Loại từ định vị: xuất hiện ở vị trí định vị.
Loại từ chỉ định: kết hợp với từ chỉ định và mạo từ. Quan điểm của Karen L.Adam Theo Karen L.Adam [143, 144] loại từ được tìm thấy trong 3 nhánh của họ ngôn ngữ Nam Á: Môn-Khmer, Nicobarese, và Aslian. Các nhánh này có những đơn vị được coi là loại từ (classifiers). Loại từ có thé là hình vị độc lập, tiền tố, trung tố hay hậu tố, có chức năng phân loại danh từ.
Mỗi lớp danh từ được xuất hiện với một vải loại từ nhất định, do vậy việc loại từ kết hợp với danh từ nao là do nội dung ngữ nghĩa của loại từ quy định. Ông đã đưa ra các phương diện ngữ nghĩa mà loại từ trong các ngôn ngữ Nam Á ngầm chỉ: chi sinh vật, vô sinh vật (hình tron, dai va rắn, dài và mỏng hoặc mềm, phẳng và các phạm vi mở rộng khác như là hoa quả, rau, hạt. Quan điểm của Greenberg Greenberg [194] là một trong những người dau tiên nghiên cứu về loại từ. Mặc dầu trong bài viết của mình ông không nói một cách công khai bất cứ phương pháp phân loại danh từ nào, nhưng hiện tượng phân loại thay đổi được đề cập bên cạnh loại từ, ông cũng gợi ý về mối tương quan giữa sự tồn tại của loại từ trong một ngôn ngữ va các phạm trù ngữ pháp khác như sự thé hiện bắt buộc của số từ.
Greenberg trong bài viết của mình đã khăng định sự khác nhau chủ yếu giữa loại từ và lượng từ (đơn vị đo lường ước lượng) là cùng xuất hiện trong một 20 vị trí cú pháp nhưng loại từ không cho biết thêm bat cứ thông tin nào hoặc không có nghĩa nào khác ngoài nghĩa “đơn vị” trong khi đó đơn vị đo lường ước lượng lại cung cấp cho chúng ta những nhận thức nhất định về số lượng danh từ đi sau nó. Vì vậy ông khang định rang loại từ là những đơn vị thừa ra khi dich sang các ngôn ngữ không có loại từ như tiếng Anh. Các đặc điểm chung của loại từ 1. Đặc điểm hình thái và cầu trúc có chứa loại từ Về mặt hình thái học, loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới có một số đặc điểm sau: 1.
Loại từ có thể là các đơn vị từ vựng độc lập. Chúng thường có cau trúc là St + Lt + Dt hoặc Dt + St + Lt. Day là đặc điểm điển hình trong các ngôn ngữ don lập. Hầu hết các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về loại từ trong các ngôn ngữ trên thé giới đều thông nhất: danh ngữ có chứa loại từ thường có 4 kiểu cau trúc thường gặp như sau: a) St + Lt + Dt: thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ thé dân da đỏ ở Châu Mỹ, ngôn ngữ Bangladesh, tiếng Hán, các ngôn ngữ Malayu, các ngôn ngữ Xê mít và tiếng Việt.
b) Dt + St + Lt: thuộc kiểu nay thường có các ngôn ngữ Miễn Điện, Nhật, Thai. c) Lt + St + Dt: tiếng Kiriwina (ngôn ngữ dai dương) d) Dt + Lt+ St: các ngôn ngữ ở quần đảo thuộc bang Louisiade (ngôn ngữ dai dương) Không bao giờ có trường hợp danh từ nằm xen giữa loại từ và số từ. Loại từ có thé là phụ tố, hoặc là các yếu tố gắn với số từ (clitic), hoặc hoà tan với SỐ tir.