Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 – hành trình cách tân với xu hướng “trò chơi văn học” Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội (Stendhal) và nhà văn chính là thư ký của thời đại (Balzac). Hiện thực cuộc sống vốn vô cùng phong phú, sinh động, muôn màu muôn vẻ. Luôn đan xen niềm vui/ nỗi buồn, có hạnh phúc/ khổ đau, cao cả/ thấp hèn, có người tốt/ kẻ xấu… Vì vậy nhà văn, người được xem là thư ký trung thành của thời đại, phải có nhãn quan và ứng xử như thế nào đối với hiện thực ấy qua quá trình lao động sáng tạo của mình? Trước hết, nhà văn phải thể hiện rõ tinh thần nhập cuộc, ý thức về trách nhiệm của người cầm bút.
Họ không thể đứng bên lề những vấn đề lớn lao của đất nước, của dân tộc, không thể đứng ngoài những vận hội, những biến cố có thể xảy đến của thời cuộc và càng không thể đứng ngoài những ngóc ngách của đời sống xã hội, của thân phận con người. Tiểu thuyết ở Việt Nam phát triển muộn. Phải đến cuối thế kỉ XVII, ở Việt Nam, văn xuôi tự sự mới bắt đầu hình thành với cuốn gia phả lịch sử viết dưới dạng tiểu thuyết chương hồi Hoan châu kí. Và phải đến đầu thế kỉ XX, với sự ra đời của tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực, thì chúng ta mới có tiểu thuyết hiện đại.
Mặc dù ra đời muộn, nhưng tiểu thuyết đã nhanh chóng trở thành một thể loại bao trùm và có vị trí quan trọng nhất của văn học, và theo Bakhtin, “trong số các thể loại đã hoàn bị từ lâu và một phần đã tiêu vong, tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang phát triển” [44]. Bàn về nội dung đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới, Đảng ta từng nhấn mạnh việc khuyến khích các nhà văn tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách trong quá trình sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính. Với quan điểm này, tinh thần dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật được coi trọng; các thử nghiệm, sáng tạo được khuyến khích, giao lưu văn hóa được mở rộng… Tất cả nhân tố đó đã mở ra thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật, phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán, phản kháng trên tinh thần nhân bản.
Từ 1986, văn học mới thực sự đổi mới và đổi mới mạnh mẽ, trong đó tiểu thuyết đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, với những dấu ấn nổi bật thể hiện sự đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức qua một đội ngũ sáng tác hùng hậu và có phong cách. Tính chất 8 trò chơi với những biểu hiện đặc thù trong lối viết đã được các nhà văn chú ý rất nhiều trong các tác phẩm văn học hậu hiện đại, chẳng hạn như chú ý đến việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn, nhiều người kể chuyện hay phân rã cấu trúc tác phẩm; gia tăng tính đối thoại khi “bất kì văn bản nào cũng là liên văn bản”, hiện thực được miêu tả bằng những bức tranh đầy tính ước lệ, những nhân vật dị biệt, kì ảo xuất hiện với tần suất dày đặc, sử dụng phổ biến bút pháp nhại, huyền thoại, trào lộng. Đứng trước nhu cầu đổi mới “tư duy tiểu thuyết”, mỗi nhà văn theo đuổi một lối viết riêng biệt và chứng tỏ được nội lực mạnh mẽ của mình như: Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Nguyễn Xuân Khánh, Bùi Anh Tấn, Dương Hướng, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… Trong tác phẩm của nhiều cây bút tiểu thuyết từ 1986 đến nay, dấu ấn đổi mới biểu hiện thực sự rõ rệt được thể hiện qua các khuynh hướng sáng tác. Cho đến hiện nay, họ vẫn đang miệt mài với hành trình cách tân với “tiếng gọi của trò chơi”.
Và góp mặt vào “trò chơi” đó, lối viết của các tác giả đương đại đã làm cho tiểu thuyết lạ rất nhiều so với truyền thống. Khuynh hướng đối thoại với thực tại bất toàn Nói như I. Wallerstein: “Ngày nay, không còn lí do để lạc quan hay bi quan. Tất cả đều có thể, nhưng tất cả đều không hề chắc chắn”.
Văn học đương đại chịu tác động “đa chiều” của bối cảnh chính trị, xã hội, sự pha trộn giữa thời bình và thời chiến; giữa cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp và cơ chế thị trường; giữa cái cũ, cái quen thuộc và cái mới,. khiến những người sáng tạo văn học, nghệ thuật khó tránh khỏi những ngỡ ngàng và cả sự háo hức trước những điều mới lạ, phong phú, phức tạp của đời sống xã hội [48]. Trong điều kiện đó , cùng với khát vọng thể hiện cá tính sáng tạo của chính mình, việc các nhà văn đương đại có nhiều cơ hội tiếp nhận những tinh hoa của văn học thế giới chính là cơ hội để họ mạnh dạn, tự tin hơn trong việc đổi mới lối viết, cách viết, tiến gần với tư duy nghệ thuật của thế giới, từ đó góp phần làm cho tiểu thuyết đương đại Việt Nam khá phong phú và đa dạng cả về tư tưởng và hình thức. Bakhtin cho rằng: “tiểu thuyết khước từ cái nhìn nguyên phiến, đơn diện, một chiều.
Ở một góc độ nào đó, tiểu thuyết là thể loại mang tính dân chủ nhất trong các thể loại văn học”. Nhà văn Vũ Tú Nam thì quan niệm: Sau năm 1986, tự thân văn học phải đổi khác, không thể đem văn học của một thời kì đã có sẵn để áp đặt lên cái nhìn của con người hôm nay. Đối với thể loại tiểu thuyết, sự đổi mới của nó thể hiện trước hết ở việc mở rộng khả năng chiếm lĩnh, khám phá và mô tả hiện thực. Tiểu thuyết là thể loại luôn luôn thay đổi, biến hóa, “không hoàn kết”, bởi vì nó “tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn thành” (M.
Trong bài viết Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Đình Sử nhận định con người trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong tình cảm, đạo đức. Ở bài Con người 9 trong văn học Việt Nam sau 1945, tác giả đã nhận định năm 1986 các vấn đề của văn học tiền đổi mới, trong đó vấn đề về con người thế sự đời tư, triết lý văn hóa mới thực sự trở thành bước ngoặt. Vị trí trung tâm của văn học là con người - là mối quan tâm hàng đầu để khám phá những biểu hiện mới của văn học Việt Nam qua từng thời kỳ. Do đó sự vận động của văn học thể hiện đầu tiên ở những biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người.
Từ sau năm 1986, các nhà văn cũng đã có một cái nhìn mới trong việc mô tả con người. Từ thực tế của cuộc sống, dường như các nhà tiểu thuyết Việt Nam đều cảm nhận sự vênh lệch giữa thực tại và các giá trị truyền thống, giữa cái cũ/ cái cổ xưa và cái tân thời, từ đó cái thuộc về truyền thống trở nên lỗi thời và dường như bị xem nhẹ. Vì vậy, những đổ vỡ, bất tín nhận thức, đức tin hay xu thế đối thoại với lịch sử, huyền thoại trong các sáng tác của Thuận, Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái… được đem ra minh định lại [45]. Trong hành trình đổi mới thể loại tiểu thuyết của các nhà văn đương đại, cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thực như là đối tượng phản ánh, khám phá của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàn diện.
Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà đó cũng là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống. Hiện thực đó cũng là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch. Đó là một thực tại bất toàn. Hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vì [48].
Văn học là nơi tái hiện lại cuộc sống con người, và khởi nguồn của sáng tạo nghệ thuật chính là cuộc sống, người viết là người tái hiện lại hiện thực ấy trong tác phẩm của mình qua một quá trình dài chọn lọc, tích lũy những kiến thức về cuộc sống đời thực, con người. Cuộc sống muôn hình vạn trạng. Khởi nguồn cho sáng tạo nghệ thuật chính là vạn vật của sự sống xung quanh, và vai trò của của nhà văn chính là cảm nhận rồi đưa nó đến với người đọc. Vì lẽ, văn học chính là hiện thực cuộc sống, văn học gắn liền với sự sống của con người.
Nhà văn nhìn cuộc sống dưới lăng kính của một nhà văn, nhà thơ, khai thác sâu vào từng khía cạnh mà người đọc chưa thể nhìn hay tìm thấy trong cuộc sống đời thường. Đem đến những cảm xúc chân thực, đưa người đọc từ cảm xúc này đến cảm xúc khác, những bước ngoặt đầy bất ngờ. Tạo cho người đọc một cái nhìn hoàn mĩ về cuộc sống. Đó cũng là một phần của sáng tạo nghệ thuật văn học.
Mỗi một tác phẩm mà các nhà văn, nhà thơ viết lên đều bắt nguồn từ những cảm hứng nghệ thuật vô tận, những cảm hứng ấy được tác giả lấy ra từ chính hiện thực cuộc sống của con người. Chính bởi thế, mà mỗi tác phẩm ta đọc, thường sẽ luôn gắn liền với cuộc sống xung quanh, gắn với 10 cuộc đời, số phận của từng số phận, với cảm xúc cá nhân của người viết. Cho dù, viết về mặt trái của xã hội, tác phẩm văn học không thể chỉ là nơi gợi ra sự căm ghét, không chỉ là nơi nhà văn trút bỏ ẩn ức của mình mà văn học cần đấu tranh không khoan nhượng với những thói hư, tật xấu của con người, khơi gợi, thức tỉnh con người tránh xa cái ác, cái xấu để nuôi dưỡng, nâng đỡ, bồi đắp cái thiện vốn có trong cuộc sống. Bởi cuộc sống dẫu có suy thoái đạo đức, nhưng cái thiện vẫn là cơ bản, là cái thuộc về sự sống.