Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây hương thảo 1. Đặc điểm sinh học của cây hương thảo Hương thảo, cái tên Rosmarinus được đặt theo tiếng Latin, trong đó Ros nghĩa là sương, marinus có nghĩa là biển, gọi đầy đủ là Sương của biển, ý nói về nguồn gốc của loại cây này là trên bờ biển vùng Địa Trung Hải. Sau này cây được trồng nhiều ở Bắc Phi, Tây Á và Nam châu Âu.
Ở nước ta được trồng nhiều ởmiền Nam và miền Trung. Khi trồng hương thảo tỏa ra mùi hương thơm ngát, mùi tinh dầu cực thơm và dễ chịu. Mùi thơm của hương thảo có thể khuyếch tán trong phòng rộng 15 m2 vẫn ngửi thấy. Mùi thơm cây hương thảo có thể giúp tinh thần thoải mái, giải tỏa stress nhanh nhất, giúp chống buồn ngủ đối với nhân viên văn phòng hoặc đối với phụ nữ sau sinh con thì tinh dầu của hương thảo sẽ làm cho các mẹ thấy thoải mái thư giãn hơn khi chăm sóc con nhỏ và gia đình.
Theo Kohler (1887) trong cuốn cây cỏ làm thuốc: Cây hương thảo xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải, là dạng cây thân gỗ, thẳng đứng có phân cành, chiều cao cây có thể đạt từ 1,5 – 2 m. Lá thường màu xanh ở trên, phần dưới lá trắng giống như có lớp phấn lốm đốm bao phủ, chiều dài lá 2 – 4 cm và rộng 2 – 5 mm. Hoa có màu trắng, hồng, tím hoặc màu xanh. Hương thảo mọc thành bụi, lá kim và xung quanh năm thưởng nở hoa vào 2 mùa xuân và hạ.
Hương thảo nở hoa nhỏ li ti màu tim tím, xinh xắn nhẹ nhàng như tên gọi “hương thảo”. Cây thuộc họ bạc hà, mùi thơm thoang thoảng hương cay. Cây hương thảo dễ dàng trồng và chăm sóc. Đất trồng hương thảo đòi hỏi phải tơi xốp, thoáng nước, tốt nhất là trồng trên đất cát pha.
Cây thích hợp trồng ở nơi có nhiều ánh sáng (ít nhất phải 6 – 8 giờ có ánh sáng mặt trời), 5 phát triển mạnh trong môi trưởng ẩm, không thể chịu được nhiệt độ quá lạnh (hương thảo không thể chịu được mùa đông dưới -10C). Cây có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được úng nước. Ngoài ra hương thảo mới trồng cần được tưới nước thường xuyên trong tuần đầu tiên hoặc tuần thứ 2 để giúp nó phát triển, nhưng sau khi đã thích nghi cây cần được tưới ít nước hơn. trong giai đoạn phát triển cây có thể chịu được điều kiện khô hạn trong thời gian dài.
Cây thường bị thối rễ và sẽ chết trong môi trường quá ẩm ướt. Do đó, những nơi trồng hương thảo người ta thường chọn cách trồng cây trong các thùng, khay hoặc chậu. Cây trồng trên các vật dụng này có thể đặt cách mặt đất một khoảng không gian để cây có thể thoát nước nhanh khi tưới, không duy trì độ ẩm cao dưới rễ cây và khi mùa đông đến có thể duy chuyển vào nơi tránh lạnh. Giá trị sử dụng cây hương thảo - Giá trị văn hóa Hương thảo nói đến lòng trung thành, tình yêu và trí nhớ, tượng trưng cho tình yêu phụ nữ vững bền, mạnh mẽ dù rằng tình yêu đến chậm.
Ngày xưa, các chàng trai Hy Lạp thường tặng lá hương thảo cho người mình yêu. Hiện nay, tại Anh cũng như tại vài xứ ở châu Âu, cô dâu trong ngày cưới vẫn còn dắt lên tóc lá hương thảo. Các bác sĩ thời La Mã khuyên bệnh nhân buộc một bó hương thảo đặt dưới gối khi cần phải quyết định, suy nghĩ những việc khó khăn. Từ thời xưa, người cổ đại của nhiều nền văn hóa khác nhau coi hương thảo là một loại cây thiêng liêng, có thể kết nối sự sống và cái chết.
Người Hy Lạp và người La Mã đốt lá hương thảo tại các đền thờ và xem hương thảo như là biểu tượng của sự tri ân và ghi nhận lòng trung thành. Trong suốt thời trung cổ, người ta đeo vòng hoa hương thảo để mang lại may mắn và bảo vệ họ khỏi những linh hồn ma quỷ, ma thuật và phù thủy. Hương thảo cũng giúp bảo vệ chống lại bệnh dịch và các bệnh truyền nhiễm. Người 6 Anh đeo hương thảo xung quanh cổ họ để ngăn ngừa cảm lạnh hoặc bao bọc xung quanh cánh tay phải họ để nâng cao tinh thần.
Ở Hoa Kỳ, người người còn trồng hương thảo trong sân vườn gia đình vừa để làm cảnh, vừa để sử dụng như một loại gia vị trong các món ăn. - Giá trị thực phẩm, tạo hương liệu Ngày nay, hương thảo là một loại thảo dược ẩm thực phổ biến được sử dụng trong nhiều món ăn ngon. Lá tươi và khô thường được sử dụng trong các món ăn truyền thống ở Địa Trung Hải. Trong cây hương thảo có hương vị cay, se và rất thơm, được bổ sung vào nhiều loại thực phẩm.
Khi bị đốt cháy, lá cây tạo ra một mùi mù tạt riêng biệt, mùi tương tự như gỗ đốt, có thể sử dụng làm gia vị để ướp thực phẩm khi làm món nướng. Cây hương thảo tươi không thể cung cấp một cách dễ dàng cho tất cả các địa điểm trên toàn thế giới. Tuy nhiên, cây khô mất chất lượng chậm, làm cho việc lưu trữ và vận chuyển dễ dàng hơn so với cây tươi. - Giá trị trong y học Hương thảo là một loại thảo dược có nhiều công hiệu với sức khỏe.
Cây được sử dụng như một loại thuốc đông y với các tác dụng chống viêm, chống béo phì, điều trị bệnh đau dạ dày, rối loạn tiêu hóa, chống lại tình trạng co giật cơ dẫn đến co rút các bắp thịt sau mỗi lần gắng sức tập thể thao, làm ấm cơ thể, giúp cân bằng trí óc, giảm căng thẳng, làm tươi mát không khí và còn có tác dụng chống muỗi. Trong y học dân gian, các bộ phận của cây Hương thảo chủ yếu được dùng để uống có tác dụng chống viêm, đau đầu, đau bụng, chống co thắt, viêm khớp, bệnh gút, dạ dày, chữa lành vết thương, lợi tiểu, giảm đau, chống thấp khớp và là thuốc trầm cảm (Holmes, 1999; Martínez và cs, 2012; Karakurum và cs, 2014; Sasikumar, 2012). 7 Chiết xuất Hương thảo có hoạt tính chống oxy hóa tốt hơn so với chất oxy tổng hợp butylated hydroxyanisole, trolox và axit ascorbic. Hơn nữa, axit carnosic và axit rosmarinic có hoạt tính chống oxy hóa cao hơn đáng kể so với hydroxytoluene butylated và α-tocophenol (Romano và cs, 2009).
Họ Lamiaceae có các hợp chất quan trọng để sản xuất phụ gia thực phẩm và có thể được sử dụng không chỉ cho hương vị thực phẩm mà còn để cải thiện chất lượng tổng thể của sản phẩm và kéo dài thời hạn sử dụng của thực phẩm. Hợp chất dễ bay hơi chẳng hạn như 1,8-cineol, long não và α-Pinene của cây thơm này cũng cho thấy sự nổi bật về hoạt động chống đông máu, chống ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt (Hussain và cs, 2010). Thành phần hóa học có hoạt tính dược học của cây hương thảo Thành phần hóa học của Hương thảo cho thấy sự hiện diện của nhiều chất có chất chống oxy hóa và các hoạt động chống lipoperoxidant đã được chứng minh, cụ thể là axit rosmarinic (RA), acid caffeic (CA), acid chlorogenic, axit carnosolic, rosmanol, carnosol và diterpenes khác nhau, rosmari-diphenol, rosmariquinonevà nhiều chất chống oxy hóa tự nhiên khác. Dầu hương thảo có chứa este (2-6%) chủ yếu là borneol, cineoles và một số tecpen (al- Sereiti và cs, 1999).
Trong số các hợp chất này, CA và RA trở thành tâm điểm của sự chú ý của các nhà nghiên cứu là tác nhân điều trị tiềm năng. RA là este của CA và axit 3,4- dihydroxyphenyllactic và được xác định rộng rãi trong các loài thực vật khác nhau. RA là một hợp chất có bản chất là polyphenol có khả năng kháng khuẩn, chống viêm, kháng virus, chống oxy hóa, chống dị ứng, viêm khớp, hen suyễn…và một số nghiên cứu bước đầu cho thấy nó có tác dụng trong điều trị bệnh Alzheimer. Trong công nghiệp thực phẩm, RA là thành phần có vai trò ngăn ngừa và hỗ trợ chữa dị ứng, viêm loét dạ dày, là chất bảo 8 quản tự nhiên, chất chống oxi hóa có thể kéo dài thời gian bảo quản hải sản tươi sống, một số sản phẩm lên men, là gia vị cần thiết trong nhiều món ăn ( Trần Hoàng Quyên, 2010).
Hoạt động chống oxy hóa của RA mạnh hơn so với vitamin E. Axit carnosic là một chất chống oxy hóa tự nhiên, được sử dụng rộng rãi thực phẩm, y sinh học ngành công nghiệp, ngành công nghiệp mỹ phẩm. Là một phụ gia thực phẩm, chất tạo màu tự nhiên tạo ra màu xanh lá cây. và Cs thuộc Viện Nghiên cứu Y học Sanford-Burnham cho rằng axit carnosic - một thành phần có trong cây Hương thảo - axit carnosic có thể có những ứng dụng lâm sàng cho bệnh ảnh hưởng đến võng mạc, bao gồm thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi, các bệnh về mắt.
Axit carnosic bảo vệ võng mạc khỏi thoái hóa và tổn thương ánh sáng gây ra trong nuôi cấy tế bào và trong các mô hình động vật gặm nhấm. Trong vài năm, nhóm của Lipton đã phát hiện axit carnosic chống tổn thương các gốc tự do trong não. Lipton và các đồng nghiệp đã thử nghiệm axit carnosic trong một mô hình động vật bị tổn thương thụ thể cảm nhận ánh sáng - là phần mắt chuyển ánh sáng thành tín hiệu điện tử, cho phép nhìn mọi vật. Nghiên cứu cho thấy rằng loài gặm nhấm được điều trị trước bằng axit carnosic đã lưu giữ lớp võng mạc của mắt dày hơn, chứng tỏ các thụ thể cảm nhận ánh sáng đã được bảo vệ ( Lipton và cs, 2012).
Axit ursolic là triterpenoid pentacyclic, có trong các loại trái cây và rau quả khác nhau. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng axit ursolic có tác động chống ung thư, tác dụng chống viêm, và cảm ứng apoptosis trong một số tế bào ung thư ở người. Đặc biệt, axit ursolic ức chế sự phát triển ung thư vú bằng cách gây di động G1/G2 bắt giữ và điều chỉnh sự biểu hiện của protein quan trọng trong con đường truyền tín hiệu (Yin và cs, 2016). Nghiên cứu nhân giống in vitro ở thực vật 1.
Cở sở khoa học nhân giống in vitro Nuôi cấy in vitro hiện đang được sử dụng như một công cụ để nghiên cứu các vấn đề cơ bản trong khoa học thực vật. Hiện nay, có thể thực hiện với tất cả các cây có giá trị kinh tế với số lượng lớn bằng kỹ thuật nuôi cấy mô. Nuôi cấy mô là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình nuôi cấy vô trùng in vitro các bộ phận tách rời khác nhau của thực vật.