ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nƣớc có mức độ đa dạng sinh học cao về thành phần các loài sinh vật. Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật ở Việt Nam. Đa dạng sinh học đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất.
Đóng góp vào đó phải kể đến sự đa dạng các loài Bò sát - Lƣỡng cƣ nói chung và loài Rùa nói riêng. Rùa là một trong những thành phần của hệ sinh thái, ngoài ý nghĩa khoa học, rùa còn mang ý nghĩa tâm linh, văn hoá của nhiều dân tộc trên thế giới. Hơn nữa, từ lâu các loài rùa là nguồn dƣợc liệu quý của y học phƣơng Đông và trong các nhà hàng rùa đƣợc coi là món đặc sản ngon, lạ. Chính vì vậy các loài rùa thƣờng xuyên bị săn bắt trái phép.
Với những nguy cơ từ việc mất môi trƣờng sống và nạn săn bắt, buôn bán trái phép với nhiều mục đích đã đẩy các loài rùa bản địa của Việt Nam trở thành một trong những loài đang bị đe dọa nhất hiện nay. Số lƣợng rùa bị lực lƣợng chức năng tịch thu từ các vụ buôn bán trái phép ngày càng tăng trong đó có rất nhiều loài rùa quý hiếm. Mặt khác các loài rùa nƣớc ngọt và rùa cạn là những loài có tuổi thọ cao, di chuyển chậm chạp nên rất dễ bị tổn thƣơng. Hơn nữa, với đặc điểm sinh học của đa số các loài rùa cạn và rùa nƣớc ngọt là đẻ rất ít trứng, tỉ lệ trứng nở thành rùa non là rất thấp và con non rất yếu.
Do đó, ở giai đoạn trứng và con non, chúng gặp rất nhiều kẻ thù trong tự nhiên, nên tỉ lệ rùa trƣởng thành là rất thấp. Các loài rùa cạn và rùa nƣớc ngọt sinh trƣởng rất chậm, tuổi thành thục sinh sản rất dài từ 8 đến 15 tuổi nên chu trình thay thế của các cá thể rùa trƣởng thành trong tự nhiên là rất dài. Những đặc điểm trên lý giải việc các quần thể rùa trong tự nhiên rất ổn định về mặt số lƣợng do chỉ có 1 đến 2 cá thể rùa non sẽ tồn tại để thay thế các cá thể bố mẹ với chiến lƣợc sinh sản của mình và sử dụng bộ mai cứng để bảo vệ cơ thể trƣớc các kẻ thù ăn thịt. Tuy nhiên, chiến lƣợc ấy đã và 1 đang bị phá vỡ một cách nghiêm trọng do chúng gặp phải ―siêu kẻ thù‖ mới là con ngƣời.
Con ngƣời đã và đang khai thác kiệt quệ các loài rùa trong tự nhiên. Nhận thức rõ giá trị của các loài động vật hoang dã cũng nhƣ tình trạng bảo tồn của chúng, Chính phủ đã ban hành nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về việc ―Hạn chế khai thác sử dụng động, thực vật rừng vì mục đích thƣơng mại‖ và nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí ―Xác định loài và chế bộ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ‖. Trong các danh lục phần động vật của Nghị định này có liệt kê một số loài rùa cạn và rùa nƣớc ngọt. Trong đó loài Rùa núi vàng (Indotestudo elongata Blyth, 1853) là quý hiếm đã đƣợc liệt kê ở danh lục IIB.
Theo một số kết quả nghiên cứu của các tổ chức bảo tồn trong nƣớc và quốc tế cho thấy phần lớn các loài rùa của Việt Nam đang bị tác động một cách nghiêm trọng và một số loài trong có thể sẽ bị tuyệt chủng trong tƣơng lai gần. Tuy nhiên, cho đến nay, ở nƣớc ta chƣa có bất cứ một tài liệu, công trình nghiên cứu về cứu hộ, nuôi nhốt, gây nuôi sinh sản và thả về môi trƣờng tự nhiên để đánh giá khả năng tồn tại, thích nghi của chúng với mục đích góp phần bảo tồn các loài rùa cạn và rùa nƣớc ngọt của Việt Nam. Trƣớc tính cấp thiết của vấn đề tôi tiến hành thực hiện đề tài: ―Nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi Rùa núi vàng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”. 2 Phần 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Các loài rùa trên thế giới đƣợc phân loại theo môi trƣờng sống nhƣ sau: rùa cạn, rùa nƣớc ngọt và rùa biển.
Trên thế giới hiện nay có 7 loài rùa biển và khoảng 300 loài rùa cạn và rùa nƣớc ngọt. Trong đó, Việt Nam có 25 loài rùa cạn và rùa nƣớc ngọt và 5 loài rùa biển (Stuart et al, 2001). Những nghiên cứu trên Thế giới Chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu về rùa là bản tóm tắt những loài rùa đã biết có kèm mô tả và tranh minh họa của Gray (1831). và các đồng nghiệp đã xuất bản danh lục và mô tả các loài rùa ở Bảo tàng Lịch sử - Tự nhiên Paris, Pháp.
Năm 1856, Gray xuất bản tập hai của cuốn sách dựa trên các loài rùa có trong Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Anh, đây là nơi có có bộ sƣu tập lớn nhất về các loài rùa vào thời điểm đó. Năm 1870 và 1872, ông đã xuất bản thêm một cuốn sách bổ sung và phụ lục các loài rùa trên thế giới. Năm 1889, Boulenger xuất bản ấn phẩm có khóa định loại và tranh mô tả các loài rùa ở Bảo tàng Anh. Dù chỉ có 70% số loài hiện có đƣợc miêu tả và tên phân loại sử dụng trong ấn phẩm hiện nay đã thay đổi thì đây vẫn là tài liệu phân loại và định loại rùa có tính khoa học cao nhất.
Trên thế giới cũng đã có quyển sách về rùa của Wermuth và Mertens (1961, 1977) và Pritchard (1967, 1979) nhƣng đƣợc sử dụng rất hạn chế trong định loại rùa. Gần đây, cuốn sách đáng chú ý nhất về rùa là (Các loại rùa trên thế giới - Turtles of the world) của tác giả Carl H.Ernst và Roger W. Barbour xuất bản năm 1989. Cuốn sách này công bố 288 loài rùa trên thế giới.
Cuốn sách mô tả các đặc điểm hình thái, nguồn gốc, tập tính sinh sản, đặc điểm sinh thái các loài rùa có kèm theo hình ảnh minh họa. Ngoài ra, có những ấn phẩm khác nhƣ: Bách khoa thư về rùa (The Encyclopedia of Turtles) của tác giả Peter C. Pritchard (1979), Cơ sở sinh học bảo tồn các loài rùa cạn (Conservation 3 Biology of Tortorses) của tác giả Jan R. Swingland và Michael W.
Klemens xuất bản năm 1989. Nghiên cứu rùa ở Đông Nam Á tiến hành muộn hơn so với thế giới. Cuốn sách định loại rùa đầu tiên cho khu vực Đông Dƣơng là cuốn Rùa Đông Dương (Les Tortues de L’Indochine) của tác giả Bourret R. và Grossmann đƣa ra cuốn sách Bò sát và lưỡng cư ở Đông Dương (Amphibien und Reptilien Sudostasiens).
Cuốn sách viết chung về hai lớp bò sát và lƣỡng cƣ. Năm 1998, Cox và các cộng sự đã xuất bản cuốn Sách hướng dẫn định loại rắn và các loài bò sát khác của Thái Lan và Đông Nam Á (A Photographic Guide to Snakes and Reptiles of Thailand and Southeast Asia), trong đó tập trung mô tả cách nhận diện nhanh các loài rắn và các loài bò sát khác cùng hình ảnh minh họa. Stuart và các cộng sự đã mô tả các loài rùa phân bố ở các nƣớc: Thái Lan, Lào, Việt Nam và Campuchia với hình ảnh minh họa. Đây là cuốn sách đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng và rất hữu ích cho việc định loại rùa ngoài thực địa.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Bourret R (1941) là công trình nghiên cứu về rùa ở Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam. Đây là cuốn sách mô tả và phân loại rùa đƣợc đánh giá rất cao, là tài liệu tham khảo phổ biến của các nhà khoa học nghiên cứu rùa. Từ năm 1945 đến năm 1954, đất nƣớc có chiến tranh, không có thêm công trình nghiên cứu về rùa trong thời gian này. Từ sau năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam ở miền Bắc tiến hành nghiên cứu về động thực vật rừng nhƣng chủ yếu là lớp thú và lớp chim.
Mãi đến sau năm 1975, các nhà khoa học mới quan tâm nghiên cứu lớp bò sát và lớp lƣỡng cƣ. Đào Văn Tiến lần đầu tiên đƣa ra tài liệu ―Định loại rùa và cá sấu Việt Nam‖ mô tả 32 loài rùa, đăng trên tạp chí Sinh vật - địa học số 16 (năm 1978). 4 Năm 1978, Nguyễn Khắc Hƣờng có bài viết ―Một số loài rùa biển ở vùng biển miền Nam Việt Nam‖ mô tả 4 loài rùa biển phân bố ở vùng miền Nam Việt Nam. Năm 1979, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc công bố tài liệu ―Kết quả điều tra nghiên cứu bò sát, ếch nhái ở một số vùng thuộc miền Tây Nam Bộ và các đảo phụ cận‖ trên tạp chí Sinh học số 1.
Năm 1981, trong cuốn ―Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam‖, nhóm tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đƣa ra ―Kết quả điều tra cơ bản bò sát, ếch nhái Miền Bắc Việt Nam (1955 - 1956)‖. Năm 1981, các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đƣa ra kết quả điều tra về bò sát và ếch nhái trong cuốn ―Kết quả điều tra cơ bản động vật Miền Bắc Việt Nam‖ do NXB Khoa học Kỹ thuật phát hành. Năm 1995, Lê Thiện Đức và S. Board có báo cáo ―Investigation of Tortoises and Freshwater Turtles in Vietnam‖ (Điều tra rùa cạn và rùa nước ngọt ở Việt Nam) Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đƣa ra cuốn ―Danh lục bò sát và ếch nhái Việt Nam‖ trong đó có danh lục của 30 loài rùa phân bố ở Việt Nam.
Hà Đình Đức là ngƣời rất tâm huyết và có nhiều công trình nghiên cứu về loài rùa mai mềm sống ở Hồ Gƣơm. Ông cũng có rất nhiều bài báo in ở các báo và các tạp chí trong và ngoài nƣớc. Ông đã nghiên cứu và mô tả loài rùa mai mềm này là loài mới trên Tạp chí Khảo cổ học số 4/2000 (Hà, 2000). Từ năm 2003 đến 2005, Tim McCormack đã tiến hành nghiên cứu về sinh thái Rùa sa nhân (Cuora mouhotii) tại vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng và đã công bố trên tạp chí của Liên minh vì sự tồn tại của các loài năm 2008 (Turtle Survival Alliance, 2008).
Năm 2010, VQG Cúc Phƣơng đã hợp tác với Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV) biên soạn và xuất bản cuốn sách Hướng dẫn thi 5 hành luật về định dạng các loài rùa cạn và rùa nước ngọt Việt Nam (Hendrie et al, 2010).