Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học tập trung nghiên cứu toàn diện về bệnh thiếu enzym beta-ketothiolase (BKT) – một bệnh lý rối loạn chuyển hóa bẩm sinh (RLCHBS) di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, gây ra bởi đột biến gen T2 (ACAT1) tại vị trí 11q22.1 trên cánh dài nhiễm sắc thể số 11. Enzym BKT (acetoacetyl-CoA thiolase ti thể) giữ vai trò xúc tác then chốt trong chu trình giáng hóa acid amin isoleucine và chuyển hóa thể xeton trong cơ thể.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, trên quy mô toàn cầu, bệnh thiếu enzym BKT được ghi nhận là bệnh lý hiếm gặp với hơn 90 ca bệnh được phát hiện qua 40 năm nghiên cứu tại hơn 30 quốc gia khác nhau. Hầu hết các công trình đã công bố trên thế giới chỉ dừng lại ở các báo cáo ca bệnh riêng lẻ; nghiên cứu đa trung tâm có quy mô lớn nhất trước đây cũng chỉ thu thập được 26 bệnh nhân. Tuy nhiên, tại Việt Nam, qua hơn 10 năm triển khai chương trình sàng lọc nguy cơ cao tại Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh thiếu enzym BKT lại là dạng RLCHBS thường gặp nhất với 41 trường hợp được chẩn đoán xác định. Trong khi các nghiên cứu quốc tế ghi nhận đột biến gen T2 mang tính đa dạng cao và chưa xác định được đột biến phổ biến hay vùng "hotspot", một nghiên cứu sơ bộ trên 8 bệnh nhân tại Việt Nam đã bước đầu ghi nhận đột biến phổ biến R208X. Do đó, việc thực hiện một nghiên cứu hệ thống về kiểu hình lâm sàng, cận lâm sàng, đặc điểm đột biến gen và đánh giá kết quả điều trị dài hạn trên toàn bộ nhóm bệnh nhân này là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện quy trình chẩn đoán và điều trị.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân thiếu enzym beta-ketothiolase.
  2. Phát hiện đột biến gen T2 gây bệnh của bệnh nhân và một số thành viên gia đình của bệnh nhân thiếu enzym beta-ketothiolase.
  3. Nhận xét kết quả điều trị bệnh thiếu enzym beta-ketothiolase.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ 41 bệnh nhân được chẩn đoán xác định mắc bệnh thiếu enzym BKT bằng phương pháp phân tích acid hữu cơ niệu (tăng 2-methylacetoacetate - 2MAA, 2-methyl-3-hydroxybutyrate - 2M3HB, tiglylglycine - TIG) và/hoặc phát hiện đột biến gen T2 gây bệnh; cùng 27 cặp bố mẹ và 8 anh/chị/em ruột của bệnh nhân được phân tích phân tử.
  • Không gian nghiên cứu: Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội, Việt Nam), phối hợp cùng Học viện Shimane và Học viện Gifu (Nhật Bản).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 6 năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa lịch sử phát hiện và tiến trình nghiên cứu bệnh thiếu enzym BKT từ năm 1971 đến nay:

  • Năm 1971: Daum R.S. và cộng sự lần đầu tiên mô tả bệnh thiếu enzym BKT như một rối loạn chuyển hóa bẩm sinh của isoleucine.
  • Năm 1979: Robinson và cộng sự phát hiện bệnh không chỉ liên quan đến sự thiếu hụt giáng hóa isoleucine mà còn liên quan trực tiếp đến rối loạn chuyển hóa thể xeton do thiếu enzym acetoacetyl-CoA thiolase ti thể (MAT) phụ thuộc kali (enzym BKT).
  • Năm 1981: Miyazawa và cộng sự phát hiện 4 enzym thiolase ở động vật có vú: 3-ketoacyl-CoA thiolase ti thể, BKT, acetoacetyl-CoA thiolase bào tương và peroxisomal 3-ketoacyl-CoA thiolase (PKT).
  • Năm 1983: Middleton và Bartlett chứng minh BKT là enzym xúc tác chuyển hóa 2-methylacetoacetyl-CoA, giải thích hiện tượng chất này không được giáng hóa trên nguyên bào sợi của bệnh nhân.
  • Năm 1988: Yamaguchi và cộng sự tiến hành phân tích hóa sinh miễn dịch trên tế bào nguyên bào sợi và phát hiện sự thiếu hụt quá trình tổng hợp protein BKT.
  • Năm 1989 – 1990: Fukao và cộng sự phân lập, giải trình tự cDNA mã hóa enzym BKT ở người và thỏ bằng kỹ thuật Northern-blot, làm rõ đặc điểm di truyền lặn dị hợp tử ở mức độ mRNA.
  • Năm 1991: Masatsugu Kano cùng cộng sự phân lập gen người mã hóa enzym BKT bằng cDNA mẫu và phân tích cấu trúc gen.
  • Năm 1992: Xác định chính xác vị trí gen T2 trên nhiễm sắc thể số 11; đồng thời phương pháp sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS) được ứng dụng trong định lượng acid hữu cơ niệu phục vụ chẩn đoán.
  • Năm 1997 – 1998: Bệnh thiếu enzym BKT được đưa vào chương trình sàng lọc sơ sinh mở rộng tại một số quốc gia phát triển.
  • Năm 2001: Fukao T. công bố nghiên cứu đa trung tâm lớn nhất thời điểm đó trên 26 bệnh nhân về kiểu hình và hiệu quả điều trị.
  • Năm 2010: Báo cáo của Fukao tổng kết gần 70 đột biến gen T2 (39 đột biến sai nghĩa, 9 đột biến vị trí cắt nối intron, 8 đột biến dịch khung, 3 đột biến vô nghĩa; cùng các đột biến mất đoạn lớn exon 2-4, 3-4 và lặp đoạn lớn exon 8-9).
  • Năm 2013: Phát triển kỹ thuật MLPA để phát hiện các đột biến mất đoạn và lặp đoạn lớn trên gen T2.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Trên thế giới, các công trình chủ yếu là nghiên cứu phân tán, mẫu bệnh nhân tại mỗi trung tâm rất nhỏ. Tại Việt Nam, tần suất bệnh ghi nhận qua sàng lọc nguy cơ cao lại cao hơn rõ rệt so với các nước khác. Luận án giải quyết khoảng trống về dữ liệu lâm sàng quy mô lớn tại một trung tâm đơn lẻ (41 bệnh nhân), cung cấp cơ sở dữ liệu về kiểu đột biến gen đặc thù tại Việt Nam (đặc biệt là đột biến R208X) và đánh giá đáp ứng phác đồ can thiệp cấp cứu cũng như quản lý dinh dưỡng dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh bệnh học

Luận án dựa trên khung lý thuyết về rối loạn chuyển hóa bẩm sinh do Archibald Garrod khởi xướng và hệ thống phân loại RLCHBS theo hóa sinh bệnh học và sinh lý bệnh học:

Nhóm sinh lý bệnh Cơ chế bệnh sinh Bệnh lý minh họa
Nhiễm độc do tích tụ chất chuyển hóa Tích tụ các phân tử nhỏ hòa tan trong nước gây độc tế bào; khoảng trống tự do không triệu chứng; biểu hiện đợt cấp tính. RLCHBS acid hữu cơ, acid amin, chu trình ure
Thiếu hụt sản xuất năng lượng Khiếm khuyết quá trình tổng hợp ATP ti thể hoặc bào tương; biểu hiện đa cơ quan, tổn thương tiến triển. RLCHBS acid béo, RLCHBS ti thể
Tích tụ chất đa phân tử Khiếm khuyết chuyển hóa tại tiêu thể, peroxisome; tổn thương tích tụ dần theo thời gian, biến đổi hình thể. Bệnh Mucopolysaccharide, Pompe, Gaucher

Bệnh thiếu enzym BKT thuộc giao thoa giữa nhóm RLCHBS acid hữu cơ và nhóm thiếu hụt năng lượng. Đột biến gen T2 làm thiếu hụt enzym BKT dẫn tới hai chuỗi hệ quả bệnh sinh:

  1. Rối loạn giáng hóa isoleucine: Gây tích tụ các chất chuyển hóa trung gian phía trên vị trí tắc nghẽn bao gồm 2-methylacetoacetyl-CoA, 2-methyl-3-hydroxybutyryl-CoA, tiglyl-CoA; dẫn đến bài tiết qua nước tiểu các acid hữu cơ gồm 2-methylacetoacetate (2MAA), 2-methyl-3-hydroxybutyrate (2M3HB) và tiglylglycine (TIG). Trong đó, 2MAA và 2M3HB có độc tính trực tiếp gây tổn thương vỏ não.
  2. Rối loạn chuyển hóa thể xeton: Gián đoạn quá trình giáng hóa acetoacetyl-CoA thành acetyl-CoA tại các tế bào ngoài gan, gây tích tụ quá mức thể xeton trong máu (acetoacetate - AcAc và 3-hydroxybutyrate - 3HB), dẫn đến tình trạng nhiễm toan xeton nặng và làm suy kiệt cơ chất acetyl-CoA cung cấp cho chu trình Krebs, dẫn đến thiếu hụt năng lượng tế bào.

Cấu trúc gen T2 (ACAT1): Gen có tổng chiều dài 27 kb, gồm 12 exon và 11 intron, tọa lạc tại vị trí 11q22.1. Chiều dài các exon lần lượt là 116, 48, 118, 96, 101, 144, 151, 96, 114, 65, 58 và 305 bp; các intron có kích thước tương ứng là 9; 6; 1; 8; 0,3; 1,3; 3,6; 1,0; 1,3; 0,7; 1,5; 2,4 và 0,9 kb. Đầu 5' của gen giàu G+C, chứa 2 khung mã CAAT, vị trí gắn Sp1 và thiếu khung mã TATA tiêu chuẩn. cDNA hoàn chỉnh dài 1.518 bp mã hóa chuỗi tiền chất enzym gồm 427 acid amin (33 acid amin đầu là chuỗi peptide dẫn truyền và 394 acid amin tạo nên enzym trưởng thành).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu đối với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và di truyền phân tử; kết hợp nghiên cứu phân tích hồi cứu và tiến cứu có can thiệp đánh giá kết quả trước - sau điều trị.
  • Cỡ mẫu và phân bổ dữ liệu:
    • Cỡ mẫu toàn bộ: 41 bệnh nhân được chẩn đoán xác định từ tháng 1/2005 đến tháng 6/2016.
    • Phân tích phân tử gen T2: 32 bệnh nhân, 27 cặp bố mẹ và 8 anh/chị/em ruột.
    • Thu thập biến số lâm sàng, cận lâm sàng trong đợt cấp: 39 bệnh nhân.
    • Theo dõi định kỳ dài hạn (6 tháng/lần): 37 bệnh nhân.
  • Công cụ và tiêu chuẩn đánh giá:
    • Tri giác: Thang điểm AVPU (Alert, Voice, Pain, Unresponsive).
    • Tình trạng mất nước: Phân độ A, B, C theo phác đồ CDD của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
    • Tăng trưởng thể chất: Đánh giá chiều cao, cân nặng theo chuẩn tăng trưởng WHO 2007.
    • Phát triển tâm thần vận động: Test Denver II (dựa trên chỉ số phát triển DQ).
    • Khí máu và sinh hóa: Đánh giá nhiễm toan chuyển hóa (pH < 7,35; HCO3- < 24 mmol/l; phân độ toan nhẹ: pH 7,2-7,3, vừa: pH 7,0-7,2, nặng: pH < 7,0; khoảng trống anion tăng khi AG > 16 mEq/l).
Phương pháp chẩn đoán Sàng lọc sơ sinh mở rộng Sàng lọc nguy cơ cao Chẩn đoán xác định
Đối tượng Toàn bộ trẻ sơ sinh Trẻ thuộc nhóm nguy cơ cao Trẻ có biểu hiện triệu chứng nghi ngờ
Kỹ thuật xét nghiệm Tandem Mass Tandem Mass, GC/MS Tandem Mass, GC/MS, Phân tích gen
Thời điểm tiến hành Trước khi xuất hiện triệu chứng Trước/ngay khi nghi ngờ triệu chứng Khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng
  • Quy trình kỹ thuật xét nghiệm đặc hiệu:
    • Kỹ thuật sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS): Thực hiện trên hệ thống sắc ký khí mao quản Shimadzu QP 5000, cột mao quản DB-5 phủ silica (30 m x 0,25 mm, độ dày màng film 1 µm với 5% phenylmethylsilicone). Bệnh phẩm là nước tiểu tươi (5 ml) hoặc giấy thấm nước tiểu (hai mẫu kích thước 2,5 x 2 cm). Mẫu chứa 0,2 mg creatinin được chiết tách acid hữu cơ bằng ethyl acetate và diethylether sau khi đã oxime hóa các 2-ketoacid bằng hydroxylamine hydrochloride 5%, sử dụng 2 chất nội chuẩn là margaric acid (MGA, 20 µg) và tetracosane (C24, 20 µg). Tạo dẫn xuất oxime-trimethylsilyl bằng hỗn hợp BSTFA và TMCS (tỷ lệ 10:1) tại 80°C trong 30 phút. Khí mang Heli tốc độ 1,5 ml/phút, quét dải ion m/z từ 50 đến 600.
    • Kỹ thuật khối phổ đôi (Tandem Mass): Định lượng acylcarnitine và acid amin máu, phát hiện tăng C5:1 (tiglylcarnitine) và C5:OH (2-methyl-3-hydroxybutyrylcarnitine).
    • Kỹ thuật phân tử: Thực hiện kỹ thuật PCR kết hợp enzyme giới hạn (PCR-RFLP), giải trình tự gen Sanger trực tiếp trên máy tự động và kỹ thuật MLPA (Multiplex Ligation-dependent Probe Amplification) phát hiện mất đoạn/lặp đoạn lớn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày hệ thống lý thuyết về sinh lý chuyển hóa, sinh lý bệnh, đặc điểm gen học, phương pháp chẩn đoán và nguyên tắc điều trị bệnh thiếu enzym BKT:

  • Đặc điểm lâm sàng: Bệnh cảnh đặc trưng bởi các đợt toan xeton mất bù cấp tính, có khoảng trống tự do hoàn toàn bình thường giữa các đợt cấp. Tuổi khởi phát phổ biến từ 5 đến 24 tháng (rất hiếm khi khởi phát ở giai đoạn sơ sinh; y văn ghi nhận 1 trường hợp khởi phát lúc 4 ngày tuổi tại Tây Ban Nha). Cơn cấp thường được kích hoạt bởi các yếu tố gây stress dị hóa như nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu hóa, sốt, nhịn đói kéo dài hoặc chế độ ăn quá nhiều protein. Triệu chứng gồm thở nhanh sâu kiểu Kussmaul, mất nước, kích thích, li bì chuyển sang hôn mê. Nếu không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng thần kinh; tần suất cơn cấp giảm dần theo tuổi và hiếm khi xuất hiện ở tuổi trưởng thành.

  • Xét nghiệm chuyển hóa thường quy: Trong cơn cấp ghi nhận toan chuyển hóa tăng khoảng trống anion, pH máu giảm sâu (thường < 7,0), HCO3- giảm mạnh (0-10 mmol/l), BE giảm tới -30 mmol/l; thể xeton toàn phần trong máu (TKB) > 7 mmol/l, tỷ lệ thể xeton toàn phần/acid béo tự do (FFA/TKB) < 0,3; amoniac máu có thể tăng nhẹ; bạch cầu máu tăng do phản ứng nhiễm trùng; MRI sọ não có thể ghi nhận tổn thương tăng tín hiệu T2 đối xứng hai bên tại bao trong và tay sau.

  • Xét nghiệm sinh hóa đặc hiệu: GC/MS nước tiểu phát hiện sự gia tăng đặc hiệu của 2M3HB, 2MAA và TIG (trong đó 2M3HB có giá trị chẩn đoán cao nhất). Tandem Mass máu ghi nhận tăng C5:1 và C5:OH.

  • Đặc điểm di truyền: Phân loại đột biến gen T2 theo cấu trúc gồm 4 nhóm: sai nghĩa, vô nghĩa, dịch khung và cắt nối gen; phân loại theo chức năng enzym gồm nhóm đột biến mất chức năng (hoạt độ enzym bằng 0, làm tăng rõ rệt các chất chuyển hóa đặc hiệu) và đột biến còn chức năng (còn một phần hoạt tính enzym, dấu ấn sinh hóa có thể không điển hình ngoài cơn cấp).

  • Chẩn đoán phân biệt: Đặt ra với nhiễm toan xeton đái tháo đường (dựa vào đường huyết > 14,1 mmol/l, HbA1C tăng cao), toan chuyển hóa trong sốc nhiễm khuẩn (lactat tăng cao, biểu hiện suy tuần hoàn), suy thượng thận cấp (hạ đường huyết, hạ natri máu), các bệnh RLCHBS acid hữu cơ khác (MMA, PA, IVA thường có giảm bạch cầu, tiểu cầu, tăng amoniac rất cao), thiếu enzym SCOT (thường khởi phát sơ sinh tới 50%, nhiễm toan xeton dai dẳng sau ăn), thiếu MCT1 và thiếu MHBD (di truyền liên kết X).

  • Phác đồ điều trị:

    • Giai đoạn cấp cứu: Thiết lập đường thở, tuần hoàn; truyền glucose 10% - 15% tốc độ 10 mg/kg/phút (kết hợp truyền insulin 0,03-0,1 UI/kg/giờ nếu đường máu > 11 mmol/l); dùng L-carnitine 100-200 mg/kg/ngày đường tĩnh mạch; bù bicarbonate khi pH < 7,1 theo công thức:

    $$\text{Lượng Bicarbonate cần bù (mEq)} = 0,3 \times P \ (\text{kg}) \times \text{BE}$$

    (bù 1/2 lượng tính toán, truyền chậm dịch Bicarbonate 4,2% pha loãng với glucose 5%, tốc độ 0,35-0,5 mEq/kg/giờ); sử dụng Sodium phenylacetate/Sodium benzoate (Ammonul) 250 mg/kg/24 giờ khi amoniac > 200 µmol/l; chỉ định siêu lọc máu tĩnh mạch - tĩnh mạch liên tục (CVVH) khi toan máu nặng không đáp ứng điều trị nội khoa hoặc khi amoniac máu vượt ngưỡng 300-500 µmol/l; điều chỉnh hạ natri (duy trì 140-145 mmol/l để phòng phù não) theo công thức:

    $$\text{Lượng Natri cần bù (mEq)} = 0,6 \times P \ (\text{kg}) \times (140 - [\text{Na}^+])$$

    (bù 1/2 trong 4 giờ đầu, 1/2 trong 20 giờ tiếp theo); điều chỉnh hạ kali khi Kali máu < 2,5 mmol/l (bù tĩnh mạch nồng độ 40-80 mmol/l, tốc độ 0,3-0,5 mmol/kg/giờ).

    • Giai đoạn lâu dài: Quản lý dinh dưỡng kiểm soát lượng protein và isoleucine theo bảng nhu cầu lứa tuổi:
Lứa tuổi Protein toàn phần (g/kg/ngày) Nhu cầu Isoleucine
0 – 3 tháng 1,5 – 2,5 90 – 150 mg/kg/ngày
3 – 6 tháng 1,2 – 2,0 75 – 125 mg/kg/ngày
6 – 9 tháng 1,0 – 1,6 65 – 115 mg/kg/ngày
9 – 12 tháng 0,8 – 1,5 50 – 100 mg/kg/ngày
1 – 4 tuổi 0,8 – 1,5 600 – 920 mg/ngày
4 – 7 tuổi 0,8 – 1,5 750 – 1250 mg/ngày
7 – 11 tuổi 0,6 – 1,4 850 – 1400 mg/ngày
11 – 15 tuổi 0,5 – 1,3 900 – 1600 mg/ngày
15 – 19 tuổi 0,5 – 1,0 1000 – 1900 mg/ngày
> 19 tuổi 0,3 – 0,8 1100 – 1900 mg/ngày

Duy trì L-carnitine 50-100 mg/kg/ngày đường uống; tư vấn chế độ ăn không để trẻ nhịn đói quá 3 giờ, bổ sung carbohydrate khi trẻ ốm; tư vấn di truyền cho gia đình (nguy cơ sinh con: 25% mắc bệnh, 50% mang gen, 25% bình thường).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu và các kỹ thuật thực nghiệm:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghi ngờ vào quy trình sàng lọc nguy cơ cao: Trẻ có biểu hiện lâm sàng các đợt toan xeton tăng khoảng trống anion, hoàn toàn bình thường giữa các cơn cấp, phát triển tâm thần vận động bình thường trước cơn đầu tiên; hoặc trẻ có tiền sử gia đình có anh/chị/em ruột mắc bệnh tương tự, đã xác định thiếu BKT hoặc tử vong không rõ nguyên nhân.
  • Quy trình thu thập và xử lý bệnh phẩm: 41 bệnh nhân được phân tích acid hữu cơ niệu bằng GC/MS (33 mẫu giấy thấm khô và 8 mẫu nước tiểu tươi). Mẫu giấy thấm được ngâm chiết lại trong xilanh 2,5 ml đặt trong ống nghiệm với 1,2 ml nước cất, ly tâm 3000 vòng/phút trong 5 phút để thu dịch chiết. Mẫu nước tiểu tương đương 0,2 mg creatinin được oxime hóa, acid hóa về pH 1,0 bằng HCl 6N, chiết tách bằng dung môi hữu cơ, làm khô bằng khí nitơ ở 60°C và tạo dẫn xuất silyl hóa.
  • Thông số phân tích dữ liệu GC/MS: Tích hợp dữ liệu tự động dựa trên 3 thông số định danh: 1) Hai mảnh ion đặc hiệu (ion định lượng Q-ion và ion khẳng định C-ion) xuất hiện đồng thời; 2) Tỷ số cường độ pic C-ion/Q-ion; 3) Thời gian lưu tính toán theo đơn vị methylene (giá trị MU).
  • Quy trình phân tích phân tử: 32 bệnh nhân cùng bố mẹ và anh chị em được lấy máu tách chiết DNA hệ gen, thực hiện khuếch đại 12 exon của gen T2 bằng các cặp mồi đặc hiệu, phân tích biến đổi trình tự qua giải trình tự Sanger và chạy MLPA để xác định các đột biến mất đoạn/lặp đoạn lớn.
  • Quy trình theo dõi và đánh giá kết quả điều trị: Bệnh nhân sau giai đoạn cấp cứu được khám tái phân tích định kỳ 6 tháng một lần. Đánh giá phát triển thể chất bằng biểu đồ Z-score WHO 2007, phát triển tâm thần vận động bằng bài test Denver II do chuyên gia tâm bệnh thực hiện, ghi nhận tần suất tái phát cơn cấp và đánh giá mối liên quan giữa phân loại đột biến gen (mất chức năng/còn chức năng) với độ nặng lâm sàng.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên dữ liệu và các nội dung đã được công bố trong luận án:

  • Đóng góp về mặt dịch tễ học và quy mô nghiên cứu: Luận án thiết lập và theo dõi đoàn hệ bệnh nhân thiếu enzym BKT gồm 41 ca bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2005 đến năm 2016. Đây là số lượng bệnh nhân thiếu enzym BKT lớn nhất được nghiên cứu và theo dõi tại một trung tâm y khoa đơn lẻ trong y văn thế giới.
  • Đóng góp về chẩn đoán hóa sinh và cận lâm sàng: Luận án chuẩn hóa và khẳng định vai trò của phương pháp sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS) sử dụng cả mẫu nước tiểu tươi và mẫu giấy thấm khô, xác định sự xuất hiện đồng thời của 2M3HB, 2MAA và TIG là tiêu chuẩn vàng sinh hóa chẩn đoán bệnh thiếu enzym BKT; kết hợp định lượng acylcarnitine máu qua Tandem Mass (tăng C5:1 và C5:OH) giúp chẩn đoán phân biệt chính xác với các bệnh lý toan xeton khác như SCOT, MCT1, MHBD hay toan đái tháo đường.
  • Đóng góp về di truyền học phân tử: Cung cấp bức tranh phân tử của gen T2 trên nhóm bệnh nhân Việt Nam, xác định đột biến phổ biến R208X và các dạng đột biến điểm, đột biến dịch khung, vị trí cắt nối cũng như ứng dụng kỹ thuật MLPA trong việc phát hiện các đột biến mất/lặp đoạn lớn; xác lập cơ sở dữ liệu di truyền hỗ trợ sàng lọc người mang gen cho các gia đình có nguy cơ.
  • Đóng góp về mặt điều trị và thực hành lâm sàng: Chuẩn hóa phác đồ điều trị cấp cứu đợt toan xeton mất bù (truyền glucose tốc độ cao 10 mg/kg/phút, truyền L-carnitine tĩnh mạch, bù bicarbonate thận trọng phòng phù não, lọc máu CVVH đối với ca toan nặng) và phác đồ dinh dưỡng lâu dài kiểm soát protein/isoleucine kết hợp bổ sung L-carnitine duy trì, giúp trên 80% bệnh nhân phát triển thể chất và tinh thần bình thường sau các đợt cấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phương pháp thu thập đối tượng chủ yếu dựa trên hệ thống sàng lọc nguy cơ cao (các ca có triệu chứng lâm sàng hoặc có tiền sử gia đình bất thường) mà chưa thể triển khai trên quy mô sàng lọc sơ sinh mở rộng cho toàn bộ trẻ sinh ra, do điều kiện y tế của các nước đang phát triển.
    • Xét nghiệm di truyền phân tử mới chỉ thực hiện được trên 32 trong tổng số 41 bệnh nhân và một số thân nhân gia đình; một số xét nghiệm sinh hóa đặc hiệu chuyên sâu phải gửi phân tích phối hợp tại Học viện Shimane và Học viện Gifu (Nhật Bản).
    • Các chỉ số hóa sinh đặc hiệu (acid hữu cơ niệu, acylcarnitine) có thể trở về mức bình thường hoặc ranh giới giữa các đợt cấp ở nhóm bệnh nhân mang kiểu gen đột biến còn chức năng, gây khó khăn cho việc đánh giá nếu lấy mẫu ngoài đợt mất bù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng theo dõi dài hạn nhóm bệnh nhân vào độ tuổi vị thành niên và trưởng thành để đánh giá hoàn chỉnh tiến triển tự nhiên của bệnh khi tần suất cơn cấp giảm dần.
    • Hoàn thiện việc giải trình tự gen và ứng dụng kỹ thuật MLPA thường quy trong nước nhằm chủ động phát hiện toàn bộ các đột biến mới và đột biến tái sắp xếp lớn của gen T2.
    • Từng bước nghiên cứu khả thi nhằm đưa bệnh thiếu enzym BKT vào chương trình sàng lọc sơ sinh mở rộng bằng kỹ thuật Tandem Mass trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị thực tiễn đối với:

  • Bác sĩ Nhi khoa, Cấp cứu Hồi sức và Nội tiết - Chuyển hóa - Di truyền: Cung cấp tiêu chuẩn chẩn đoán, phác đồ cấp cứu toan xeton chuyển hóa tăng khoảng trống anion, công thức bù bicarbonate, chỉ định lọc máu CVVH và bảng định lượng protein/isoleucine chính xác theo từng nhóm tuổi.
  • Bác sĩ Di truyền y học và chuyên gia tư vấn di truyền: Nắm vững quy luật di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường của đột biến gen T2, hỗ trợ tư vấn tiền hôn nhân, sàng lọc người lành mang gen cho bố mẹ và người thân của bệnh nhân.
  • Cán bộ xét nghiệm Hóa sinh và Sinh học phân tử: Cung cấp quy trình chi tiết về xử lý mẫu giấy thấm nước tiểu, các bước tạo dẫn xuất oxime-trimethylsilyl, thông số vận hành hệ thống GC/MS Shimadzu QP 5000 và kỹ thuật giải trình tự, MLPA xác định đột biến gen.

Câu hỏi thường gặp

1. Bệnh thiếu enzym beta-ketothiolase (BKT) là gì và do đột biến ở gen nào gây ra?
Bệnh thiếu enzym BKT là một bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, do đột biến gen T2 (ACAT1) nằm trên cánh dài nhiễm sắc thể số 11 (vị trí 11q22.1). Gen này mã hóa cho enzym acetoacetyl-CoA thiolase ti thể, giữ vai trò xúc tác quá trình giáng hóa acid amin isoleucine và chuyển hóa thể xeton.

2. Dấu ấn sinh hóa đặc hiệu nào được sử dụng để chẩn đoán xác định bệnh thiếu enzym BKT?
Chẩn đoán sinh hóa xác định dựa vào sự gia tăng đặc hiệu của 3 acid hữu cơ trong nước tiểu qua xét nghiệm GC/MS là: 2-methylacetoacetate (2MAA), 2-methyl-3-hydroxybutyrate (2M3HB) và tiglylglycine (TIG); kết hợp với sự gia tăng acylcarnitine C5:1 và C5:OH trong máu qua xét nghiệm Tandem Mass.

3. Tại sao truyền glucose tốc độ cao là biện pháp đầu tiên và bắt buộc trong điều trị cấp cứu cơn mất bù của bệnh thiếu enzym BKT?
Truyền glucose liều cao (tốc độ 10 mg/kg/phút) giúp cung cấp ngay nguồn năng lượng bị thiếu hụt cho tế bào, đồng thời có tác dụng ức chế trực tiếp quá trình ly giải mỡ và sinh thể xeton nội sinh, từ đó làm giảm sản xuất các acid thể xeton gây toan chuyển hóa và ngộ độc tế bào.

4. Khi nào bệnh nhân thiếu enzym BKT có chỉ định siêu lọc máu liên tục (CVVH)?
Kỹ thuật siêu lọc máu liên tục (CVVH) được chỉ định trong các đợt cấp khi bệnh nhân có tình trạng nhiễm toan chuyển hóa nặng khó điều chỉnh bằng bù dịch và bicarbonate, hoặc khi có tăng amoniac máu nặng trên 300-500 µmol/l không đáp ứng với thuốc thải độc.

5. Khả năng di truyền của bệnh thiếu enzym BKT cho các thế hệ con cái như thế nào?
Do di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường: Nếu cả bố và mẹ đều là người lành mang gen đột biến dị hợp tử, xác suất trong mỗi lần sinh là 25% con mắc bệnh, 50% con là người mang gen không triệu chứng và 25% con hoàn toàn bình thường. Tỷ lệ mắc bệnh đồng đều ở cả hai giới nam và nữ.

Kết luận

Luận án đã tổng kết một cách khoa học và toàn diện về bệnh thiếu enzym beta-ketothiolase trên tập hợp 41 bệnh nhân tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2005 – 2016. Công trình làm sáng tỏ cơ chế sinh bệnh học, cấu trúc gen T2, quy trình chẩn đoán hóa sinh chuẩn xác bằng GC/MS, Tandem Mass và xét nghiệm di truyền phân tử. Đồng thời, luận án đã chuẩn hóa phác đồ điều trị cấp cứu đợt toan xeton mất bù và quy trình quản lý dinh dưỡng lâu dài, mang lại tỷ lệ hồi phục và phát triển bình thường trên 80% cho trẻ mắc bệnh.