Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nhiễm IIIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới. Những năm gần đây các nỗ lực toàn cầu trong việc đối phó với dịch AIDS đã có nhiều tiến triến khả quan, báo cáo của Chương trình phối hợp phòng chong HIV/AIDS cùa Liên hợp quốc (UNAIDS) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tính đen cuối tháng 12 năm 2006 toàn thế giới có 39,5 triệu người nhiễm HIV và có 2.9 triệu người đã chết do HIV/AIDS [35], Ớ nhiều khu vực trên thế giới, số nhiễm mới chú yếu tập trung trong nhóm thanh niên (15-24 tuối).Tính riêng sổ người từ 15 tuồi trở lên, thanh niên chiếm 40% số các ca nhiễm mới trong năm 2006.
Ước tính tình hình HIV/AIDS trên thế giói năm 2006 (đơn vị tỉnh: triệu người) Tổng số 39,5 Người lớn 37,2 Số hiện nhiễm Phụ nữ 17.7 Trẻ em dưới 15 tuổi 2.3 Tông sô 4,33 Số nhiễm mới Người lớn 3,8 Trẻ em dưới 15 tuổi 0.53 Tổng số 2,98 Số chết do HIV/AIDS Người lớn 2.6 Trẻ em dưới 15 tuổi 0.38 Nguôn: UNAIDS, WHO, 2006 Theo ước tính của WHO, mồi ngày trên toàn cầu có khoảng 14 nghìn người nhiễm mới HIV, trong đó trên 90% người nhiễm ở các nước có thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Đại dịch HIV/AIDS không loại trừ bất kỳ quốc gia nào, dù là nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỳ thuật tiên tiến như Mỹ, Pháp, Đức.hay 7 các nước kém phát triển như Zimbabwe, Nigeria.Một nước bị tàn phá mạnh nhất ờ Châu Phi đó là Uganda, cứ 5 người thì có một người bị nhiễm HIV [35]. Mặc dù HIV/AIDS lây lan trên toàn thế giới, tuy nhiên tại mồi vùng, mối quốc gia lại có các mô hình lây nhiễm khác nhau, thậm chí còn có sự khác nhau vê mô hình lây nhiễm virút theo cộng đồng, theo vùng địa lý trong cùng một quôc gia. Cũng theo báo cáo của UNAIDS và WHO, khu vực cận sa mạc Sahara có ty lệ nhiễm HIV cao nhất Có tới 2/3 (63%) tổng số người lớn và trẻ em sống với H1V trên toàn cầu là đang sinh sống tại Cận Sahara Châu Phi, với tâm điếm của dịch là miền Nam Châu Phi.
Một phần ba (32%) tổng số người sống với HIV trên toàn cầu là cư dân của miền Nam châu Phi và 34% tống số các ca tử vong do AIDS trên toàn cầu trong năm 2006 xảy ra ở khu vực này [35]. Đến cuối năm 2005, ước tính có 8,6 triệu người đang sống với IIIV ở châu Á.000 người mới nhiễm HIV trong năm.000 người tư vong do các nguyên nhân hên quan đến AIDS trong năm 2006. số người đang được điều trị bằng thuốc ARV đã tăng gấp 3 lần kể từ năm 2003, và đạt con số 235000 người vào tháng 6, 2006. Con số này tưcmg đưcmg 16% tổng số người cần được điều trị bằng thuốc ARV ở châu Á.
Chỉ duy nhất thái Lan là quốc gia đã điều trị dược cho ít nhất 50% số người cần những thuốc này [35], Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Caribe, Đông Nam Châu Á, khu vực Bắc Mỹ, hình thức lây truyền chủ yếu tại các khu vực này là lây truyền qua quan hệ tình dục (QHTD) khác giới và tiêm chích ma tuý. QHTD khác giới không được bào vệ là nguyên nhân chính trong số 3,1 triệu trường hợp nhiễm mới ở người lớn tại khu vực cận Sahara trong năm 2004. Tỷ lệ sinh đẻ cao, đồng thời với tình trạng ít được tiếp cận với thông tin và dịch vụ dự phòng làm cho khoáng 530 nghìn trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV từ những bà mẹ, chiếm 90% số trường hợp trẻ em nhiễm HIV toàn cầu [35], Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dịch HIV xuất hiện muộn hơn. Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở khu vực này được phát hiện tại Thái Lan vào năm 1985, đến cuối những năm 90 Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bố bệnh dịch HIV trên toàn quốc.
Năm 2001 có 1,07 triệu người lớn và trẻ em mới nhiễm 8 HIV tại Châu Á- Thái Bình Dương, đưa tổng số người nhiễm HIV tại khu vực lên 7,1 triệu người. Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vục này có nhiều hình thái khác biệt. Tại Thái Lan và Campuchia, hình thái lây truyền HIV chu yếu qua QHTD khác giới, một số nước khác như Trung Quốc, Malaysia hình thái lây truyền chú yếu qua tiêm chích ma tuý, bên cạnh đó hình thức lây truyền qua QHTD khác giới cũng ngày càng gia tăng. Nguy cơ lây truyền qua QHTD khác giới tiềm ấn nhiều ờ các nhóm có đặc tính di biến động cao như nhóm lái xe, công nhận xây dụng, GMD các nhà hàng khách sạn và cả những người LĐTD [35], Theo số liệu của Bộ Y tế Trung Quốc, vào cuối năm 2005 ước tính trung Quốc có 650000 người đang sống với HIV.
Mặc dù HIV đã được phát hiện ờ trên tất cả các tỉnh cúa đất nước rộng lớn này, nhưng phần lớn số trường hợp dược báo cáo là từ Hà Nam (Henan), Vân Nam (Yunnan), Quảng Tây (Quangxi), Tân Cương (Xinjiang) và Quảng Đông (Quangdong), trong khi đó các tỉnh Ninh Hạ (Ningxia), Thanh Hải (Qinghai) và Tây Tạng (Tibet) dường như vẫn chưa có dịch HIV. Cũng theo WHO và UNAIDS cho biết dịch tại Trung Quốc rất đặc biệt và khác so với các nước trong khu vực, bắt đầu từ nông thôn sau đó lan ra thành thị, dịch IIIV liên quan đến tiêm chích ma túy ở Trung Quốc đã đạt đen mức báo động. Gần một nứa (44%) số người đang sống với HIV được cho là nhiễm do tiêm chích ma túy và gần 90% số trường hợp nhiễm theo đường này xảy ra ở 7 tỉnh Vân Nam (Yunnan), Tân Cương (Xinjiang), Quảng Tây (Quangxi), Quảng Đông (Quangdong), Quế Châu (Quizhou), Tứ Xuyên (Sichuan) và Ho Nam (Hunan) [35]. Theo các báo cáo thì gần một nửa (49%) người tiêm chích ma túy đã từng sứ dụng bơm kim tiêm không tiệt trùng (úy ban quốc gia làm việc về AIDS của Trung Quốc, Nhóm chuyên đề của UN ở Trung Quốc, 2004).
Bởi vậy không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV đã cao hơn 50% trong nhóm tiêm chích ma túy ờ một số nơi tại các tỉnh Tân Cương, Vân Nam và Tứ Xuyên (Sizhuan) (Mingjian và cộng sự, 2006; Bộ Y tế Trung Quốc, UNAIDS, WHO, 2006; MAP, 2005), hay tỷ lệ hiện nhiễm tăng cao đột ngột trong nhóm nghiện chích ma túy ví dụ ở khu vực Tây Nam của tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm tiêm chích ma túy ở thành thị đã tăng từ 11% lên tới 18% trong giai đoạn 2002- 2004 (Zhang và cộng 9 sự, 2006). Một nửa số trường hợp mới nhiễm HIV ở Tru Quốc trong năm 2005 là do quan hệ tình dục không an toàn. Cùng với việc HIV đ. I g dần lan từ những nhóm quần thể có nguy cơ cao nhất sang cộng đồng, số phụ ] X nhiễm HIV đang ngày càng gia tăng.
Tại 3 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông năm 2000. tốc độ lây nhiễm HIV qua QHTD với GMD tại Vân Nam là 4,6% (năm 1999 là 1,6%). tại Quảng Tây là 10,7% (tăng hơn 6% so với năm 1999) [35]. Cũng theo số liệu của Bộ Y tê Trung Quôc, có nhiêu dự đoán về các tác động của di cư và di biến động ở mức độ lớn đối với sự tiến triển của dịch ở Trung Quốc.
Người ta cho rằng nam di dân thường có thể có quan hệ tình dục với mại dâm. do đó làm cho họ và bạn tình của họ có nguy cơ nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây truyền qua dường tình dục cao hơn. Trung Quốc được dựa trên số lượng người di cư rất lớn. ước tính 120 - 150 triệu và bằng chứng cúa mối liên hệ giữa di dân và HIV từ các nghiên cứu trên dân di cư ở những nơi khác và số liệu giám sát HIV ở người di cư ở một vài thành phố.
Ở Trung Quốc, có một vài bằng chứng cũng cố cho những vấn đề này. Ví dụ, ở Suining và Luzhou tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) phần lớn khách mua dâm là người lao động di cư, cũng là những người hay mua dâm (trung bình 11 lần trong vòng 6 tháng trước đó) và có xu hướng không sử dụng bao cao su thường xuyên (chỉ có 36% sứ dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục có trả tiền gần dây nhất) (Wan và Zhang, 2006). Trong một nghiên cứu thực hiện trước đó (năm 2002) ờ Bắc Kinh (Beijing), Nam Kinh (Nanjing) và Thượng Hải (Shanghai), một phần mười nam di cư cho biết họ đã từng mua dâm (Wang và cộng sự, 2006) [35]. Tuy nhiên cũng nên tránh khái quát hóa vấn đề, tình hình ở khác nhau ớ các địa phương khác nhau, đặc biệt là ở những khu vực của Trung Quốc nơi có số lượng đáng kể người di dân cùng với bạn tình của họ.
Bởi vậy, nghiên cứu trên toàn bộ dân số lần đầu tiên được triển khai ở ở thù đô Hàng Châu (Hangzhou) của tỉnh Triết Giang (Zhejiang) đoi với nhóm đối tượng là công nhân và di dân Trung Quốc dã không phát hiện được trường hợp nhiễm HIV nào. Có thể có nhiều lý do cho với kết quả nghiên cứu này. Gần một nửa số công nhân di cư ở Trung Quốc là phụ nữ và ít có khả năng họ mua dâm. Ớ nhiều nơi trong nước, người di cư thường di cùng với gia đình như trường hợp một phần ba số công nhân di cư trong nghiên cứu or Hàng 10 Châu (Hangzhou).
Nhiều người di cư vẫn duy trì các quan niệm truyền thống và khá bảo thủ trước vấn đề như tình dục với bạn tinh không thường xuyên (Hesketh và cộng sự, 2006) [35]. An Độ là nước đông dân thứ hai trên thế giới và dịch đang diễn ra hết sức đa dạng với chiều hướng đang ổn định hoặc đi xuống ở một số vùng trong khi lại tiếp tục gia tăng ở một số vùng khác. Khoảng 5,7 triệu [3,4 triệu-9,4 triệu] người trong đó 5,2 triệu là người trưởng thành trong độ tuổi 15-49 đang sống với HIV trong năm 2005. GMD đóng góp khá lớn làm lây truyền HIV tại quốc gia này.
Ớ Tamil Nadu 50% số GMD bị nhiễm HIV. Ở Andhra Pradesh, Karnataka.Maharashtra và Nagaland tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các phụ nữ mang thai gần 1%. Điều này cho thấy dịch HIV đang dần chuyến dịch sang các nhóm dân cư khác nhau [35], Tại Indonesia, HIV tăng nhanh chóng trong nhóm tiêm chích ma tuý, GMD và nhóm người hiến máu. Ket quả giám sát tại Indonesia cho thấy vào năm 2000, 40% sổ người tiêm chích đang điều trị tại Jakarta đã bị nhiễm HIV.
Tại Bogor, tình Đông Java: 25% số người nghiện chích ma tuý nhiễm HIV. Tại Thái Lan, có khoảng 670 nghìn trường hợp nhiễm HIV.