ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh gây nên bởi nhiễm vi rút Dengue (DEN) cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn. Bệnh SXHD là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lƣu ở nhiều quốc gia có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng, châu Mỹ, châu Phi có xấp xỉ 3,5 tỷ ngƣời sống trong vùng nguy cơ.Đặc điểm của bệnh này là sốt, xuấthuyết và thoát huyết tƣơng, có thể gây nên sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạnđông máu, suy tạngvà nếu không đƣợc xử trí kịp thời sẽ có thể dẫn tới tử vong [41]. Đây là bệnh lan truyền với tốc độ rất nhanh, ƣớc tính tỷ lệ mắc SXHD đã tăng lên hơn 30 lần trên toàn cầu trong 50 năm qua.
Mỗi năm trên thế giới có 50 – 100 triệu ngƣời mắc sốt xuất huyêt Dengue với 500.000 trƣờng hợp nhập viện và 22.000 trƣờng hợp tử vong chủ yếu ở trẻ em. Chi phí ƣớc tính cho một trƣờng hợp cấp cứu và nhập viện khoảng 514 – 1394 USD [43]. Tại Việt Nam,trong 10 năm gần đây đã xảy ra 2 vụ dịch lớn vào năm 2009 và gần đây nhất là vào năm 2017, số ca mắc tăng cao hàng năm gây nhiều khó khăn cho cho công tác phòng chống bệnh SXHD ở Việt Nam [21]. Hà Nội là thành phố có dân số lớn thứ 2 của Việt Nam, đồng thời cũng là thành phố trọng điểm nhất về SXHD tại khu vực Miền Bắc với trên11.000 ca năm 2016, năm 2017 số ca mắc là 37.651trong đó có 7 trƣờng hợp tử vong, tăng gấp 3,4 lần ca mắc so với năm 2016 [19].
Năm 2017, trƣớc tình hình bùng phát dịch SXH trên địa bàn, UBND Thành phố, Sở Y tế, TTYTDP Thành phố đã chỉ đạo các đơn vị thành lập các đội xung kích và tổ giám sát để phòng chống dịch SXH. Trong đó tổ giám sát gồm có 01 cán bộ y tế cơ sở và 01 lãnh đạo thôn có nhiệm vụ giám sát hoạt động của 5 – 10 đội xung kích, đánh giá kết quả thực hiện của các đội xung kích bằng cách điều tra, giám sát vector ngẫu nhiên từ 5 – 10% hộ gia đình. Huyện Gia Lâm là huyện ngoại thành Hà Nội, năm 2017 có số ca mắc SXHD là 251 ca chiếm 0,7% so với toàn thành phố (251/37.651); không có trƣờng hợp nào tử vong; dịch diễn ra ở 22/22 xã, thị trấn. Trên địa bàn huyện đã triển khai các hoạt động diệt véc-tơ phòng chống dịch SXHD theo hƣớng dẫn của Bộ Y tế, Sở Y tế và 2 TTYTDP Hà Nội.
Hàng năm, TTYT tổ chức các lớp tập huấn cho các CBYT về công tác phòng chống SXH, từ đó các CBYT cơ sở tập huấn lại cho các công tác viên cũng nhƣ tuyên truyền cho ngƣời dân về các biện pháp phòng chống dịch SXH. Nhƣng qua giám sát chỉ số véc-tơ truyền bệnh luôn ở mức cao, có những thời điểm BI lên đến 30 (kết quả giám sát của Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội ngày 20/9/2017 tại ổ dịch xã Đa Tốn) [22]. Hiện nay việc phòng chống SXHD trên thế giới nói chung và tại Hà Nội nói riêng là vô cùng khó khăn vì chƣa có vắc xin phòng bệnh cũng nhƣ thuốc đặc trị. Biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu dựa và có hiệu quả là dựa vào kiểm soát véc- tơ truyền bệnh.
Để triển khai các biện pháp phòng chống dịch SXHD hiệu quả, các CBYT cần có đủ năng lực và thực hiện tốt công tác giám sát véc-tơ truyền bệnh (muỗi Aedes aegypti và muỗi Aedes albopictus) để có thể đánh giá, dự báo tình hình SXHD tại địa phƣơng, nhằm phòng chống bệnh chủ động. Vì vậy, việc đánh giá kiến thức, thực hành của CBYT xã đối với việc giám sát véc-tơSXHDcần đƣợc thực hiện, từ đó triển khai những chƣơng trình tập huấn nâng cao kiến thức, thực hành cho CBYT. Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu những yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơSXHDcủa cán bộ tuyến xã, thị trấn. Vì những lý do trên, chúng tôitiến hành nghiên cứu đánh giá “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của cán bộ y tế xã trong giám sát véc-tơ sốt xuất huyết Dengue huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2018”, nhằm mô tả thực trạng công tác giám sát véc – tơ SXHD của CBYT xã, thị trấn tại huyện Gia Lâm hiện nay, cũng nhƣ xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của CBYTtrong việc giám sát véc-tơ SXHD để có thể đƣa ra những giải pháp cho đẩy mạnh giám sát véc-tơtại tuyến xã, thị trấn trong công tác phòng chống bệnh SXHD trên địa bàn huyện.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2018. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2018. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đại cƣơng bệnh sốt xuất huyết Dengue 1.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên Thế giới và tại Việt Nam Tình hình SXHD trên Thế giới Hình 1.1: Bản đồ phân bố nguy cơ mắc SXHD trên toàn thế giới[42, 46] Hiện nay, SXHD Dengue (SXHD) là một trong những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây đƣợc sự quan tâm hàng đầu thế giới do có tốc độ lan truyền nhanh với véc-tơ truyền bệnh là do muỗi Aedes, phân bố rộng rãi ở tất cả các vùng địa lý và các khoảng thời gian. Sau những ghi nhận đầu tiên về các ca bệnh SXHD, cho tới năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có lƣu hành dịch. Nhƣng sau đó số ca đã tăng lên gấp 4 lần và lƣu hành rộng rãi thêm tại các quốc gia khác [39]. Các khu vực báo cáo về dịch tễ học của SXHD trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bao gồm: Châu Mỹ, Nam Âu, Bắc Phi, Đông Địa Trung Hải, Châu Á, Châu Úc và một số lƣợng lớn các đảo ở Ấn Độ Dƣơng, phía nam và trung tâm Thái Bình Dƣơng cũng nhƣ ở vùng biển Caribean.
Trong vòng hơn 40 năm, SXHD tăng cả về tỷ lệ và vùng phân bố. Đến năm 1996, tại các khu vực này đã có 2.000 triệu ngƣời sống trong vùng lƣu hành vi-rút gây bệnh, trong đó có khoảng 20 triệu ca mắc, dẫn tới 24.000 ca tử vong [28]. Bệnh SXHD là bệnh lây lan do muỗi lây lan nhanh nhất trên thế giới. Trong 50 năm qua, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gấp 30 lần với sự gia tăng địa lý ngày càng tăng 5 lên các quốc gia mới và, trong thập kỷ nay, từ thành thị đến nông thôn.
Ƣớc tính có khoảng 50 triệu trƣờng hợp nhiễm SXHD xảy ra hàng năm và khoảng 2,5 tỷ ngƣời sống ở các quốc gia có dịch SXHD [41]. Nghị quyết của Hội đồng Y tế Thế giới năm 2002 WHA55.17 [40] đã thúc đẩy cam kết về bệnh SXHD của WHO và các quốc gia thành viên. Ý nghĩa đặc biệt là Hội nghị Y tế Thế giới năm 2005 giải quyết WHA58.3 về sửa đổi Quy định Y tế Quốc tế (IHR) [45], bao gồm SXHD nhƣ một ví dụ về bệnh có thể tạo thành một trƣờng hợp khẩn cấp y tế công cộng, an ninh sức khỏe do sự gián đoạn và dịch nhanh chóng lan ra ngoài biên giới quốc gia. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh SXHD đã tăng đáng kể ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Hơn 40% dân số thế giới đang sống trong vùng có nguy cơ bị SXHD. Hiện nay có khoảng 390 triệu ca mắc SXHD trên toàn thế giới, trong đó 96 triệu ca có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hàng nămTheo ƣớc tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO) [44, 47]. Năm 2006, tại châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng đối với ca bệnh thể xuất huyết (DHF) thì ƣớc tính có khoảng 500.000ca, trong đó có đến 25000 ca tử vong. Con số hơn1,7 triệu ca SXHD đã đƣợc báo cáo ở châu Mỹ năm 2010, trong đó số tử vong là 1185 [7].
Đối với các nƣớc Châu Phi, tính từ năm 1960 đến năm 2010, có khoảng 20 đợt dịch xảy ra ở 15 quốc gia của châu lục này, chủ yếu ở các nƣớc Đông Phi [30]. Năm 2017 tại Philippines ghi nhận trên 52 nghìn trƣờng hợp, tăng 41% so với cùng kỳ 2015, trong đó có 207 trƣờng hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 51/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,4%; Singapore ghi nhận 7.891 trƣờng hợp mắc, không có tử vong, tỷ lệ mắc là 155/100. Các quốc gia khác trong khu vực nhƣ Lào, Cam-Pu-Chia, Trung Quốc, Úc số mắc có xu hƣớng tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2015 [30]. Tại Indonesia, nơi có hơn 35% dân số của đất nƣớc này đang sống ở các khu vực đô thị, 150 nghìn trƣờng hợp đã đƣợc báo cáo trong năm 2007, cao kỷ lục với hơn 25 nghìn trƣờng hợp đƣợc ghi nhận từ cả Jakarta và khu vực Tây Java [35].
Tại Thái Lan các ổ dịch đƣợc ghi nhận từ các tỉnh nhƣ Trat, Bangkok, Chiangrai, Phetchabun, Phitsanulok, Khamkaeng Phet, Nakhon Sawan và Phit Chit. 6 Tổng cộng có gần 59.000 trƣờng hợp đƣợc báo cáo trong năm 2007. Tỷ lệ tử vong ở Thái Lan khá thấp ở mức dƣới 0,2% [36]. Tình hình SXHD tại Việt Nam Tại Việt Nam, khu vực chịu ảnh hƣởng của dịch bệnh này là các tỉnh hành phố thuộc khu vực miền Nam và miền Trung.
Chu kỳ bùng phát là từ 4 – 5 năm/lần, dịch thƣờng gia tăng vào mùa mƣa, miền Bắc vào khoảng tháng 4 đến tháng 11, miền Nam vào khoảng tháng 4 đến tháng 11 [8, 9]. Vụ dịch đầu tiên đƣợc ghi nhận tại Việt Nam là ở miền Bắc năm 1958. Trƣớc năm 1990, bệnh SXHD xuất hiện có tính chất chu kỳ một cách tƣơng đối rõ ràng, với mỗi chu kỳ từ 3 – 5 năm. Nhƣng chỉ đến khi vào năm 1998, dịch đã xuất hiện và lƣu hành tại 56/61 tỉnh thành trong cả nƣớc với khoảng 234 nghìn trƣờng hợp mắc và 377 trƣờng hợp tử vong,tỷ lệ mắc là khoảng 306 trƣờng hợp/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,19% gây ra những thiệt hại lớn về ngƣời, kinh tế cho ngƣời dân.
Tổn thất này đã gây ra sự quan tâm, do đó bệnh dịch này đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình mục tiêu Quốc gia và duy trì cho đến ngày nay [11]. Giai đoạn từ những năm 80, 90 của thế kỷ trƣớc, trung bình mỗi năm ghi nhận xấp xỉ 100.000 trƣờng hợp mắc, 300 - 400 trƣờng hợp tử vong. Tuy nhiên, năm 1987 dịch bùng phát dịch diện rộng với số mắc trên 350 nghìn trƣờng hợp và trên 1.