ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, việc điều tra và nghiên cứu kiến thức bản địa đã đƣợc nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm chú ý trong nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế… Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc của một cộng đồng hay một khu vực cụ thể nào đó, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định.Phần lớn kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trƣờng rất đa dạng của địa phƣơng vùng cao, gắn liền với nền văn hóa riêng của từng dân tộc Trên địa bàn Vƣờn hiện có 29 cộng đồng thôn/bản thuộc vùng đệm trong và vùng đệm ngoài, có tổng số 2.908 hộ chủ yếu là đồng bào dân tộc Mƣờng (80%) và Dao (18%). Đồng bào ở đây còn lƣu giữ đƣợc nhiều phong tục, tập quán và truyền thống đặc trƣng trong sản xuất cũng nhƣ sinh hoạt, đời sống hàng ngày. Loài gà Chín cựa theo điều tra, đánh giá ban đầu phân bố hầu hết tại các thôn/bản trên địa bàn Vƣờn, là "Lễ vật" không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào Dao và Mƣờng trên địa bàn. Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi nhỏ, lẻ và nuôi chung với nhiều giống gà khác.
Do vậy, phần nào đã ảnh hƣởng đến chất lƣợng nguồn gen của loài Bởi vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong chăn nuôi giống Gà chín cựa tại xã Xuân Sơn-thuộc vùng đệm Vƣờn quốc gia Xuân Sơn”, với mong muốn tìm ra những điểm đặc sắc trong kỹ thuật chăn nuôi Gà chín cựa tại địa phƣơng, đồng thời định hƣớng giải pháp bảo tồn kiến thức bản địa trong chăn nuôi giống gà quý, hiếm này. 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về gà Chín cựa tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn Hiện nay, tại Việt Nam một số địa phƣơng nhƣ Lạng Sơn (xã Mẫu Sơn), Bắc Ninh (Công ty Dabaco), Nghệ An… đều có phân bố gà Chín cựa. Tuy nhiên, gà Chín cựa tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) có những đặc điểm ngoại hình khác hoàn toàn khác so với các địa phƣơng nêu trên, cụ thể: Đối với gà trống: Màu lông: Lông đầu, lƣng và đuôi có màu đỏ tƣơi, bụng màu đen; đuôi lông màu đen và uốn cong.
Mào đỏ tƣơi, phát triển tốt, láng bóng và thƣờng chia 7 thùy, kích thƣớc dài từ 6,5 cm đến 7,4 cm cao từ 5,0 cm đến 5,4 cm. Một số gà thành thục ráy tai có màu trắng. Số cựa: 8 cựa, mọc trên xƣơng ống chân, các cựa đƣợc sắp xếp từ ngắn đến dài theo chiều từ dƣới lên trên, riêng đối với cựa cuối cùng hình dáng uốn cong lên. Đuôi thẳng, đúng vị trí,uốn cong.
Đối với 45 gà mái: Màu lông: Lông đầu, lƣng và đuôi có màu vàng hoặc nâu; bụng dày màu sáng đen; đuôi lông màu nâu. Mào đỏ tƣơi, phát triển tốt, láng bóng. Một số gà thành thục tích tai có màu trắng. Số cựa: 6 cựa màu vàng, mọc trên xƣơng ống chân, các cựa đƣợc sắp xếp từ ngắn đến dài theo chiều từ dƣới lên trên.
2 Gà Chín cựa Xuân Sơn (Phú Thọ) Gà Chín cựa Mẫu Sơn (Lạng Sơn) 1. Tình hình nghiên cứu bảo tồn gà chín cựa ở trong và ngoài nƣớc Bảo tồn nguồn gen vật nuôi là một vấn đề cấp bách có tính chất toàn cầu. Nói đến bảo tồn nguồn gen vật nuôi là nói tới bảo tồn đa dạng sinh học. Công ƣớc đa dạng Sinh học (CBD) đƣợc phê chuẩn vào tháng 12 năm 1993, là bƣớc ngoặt lớn trong lĩnh vực môi trƣờng và phát triển.
Đây là công ƣớc đầu tiên giải quyết một cách toàn diện các vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Không những thế, CBD còn bao gồm các nội dung tiếp cận nguồn gen, tiếp cận và chuyển giao công nghệ kể cả công nghệ sinh học (http://www. Gần đây kế hoạch toàn cầu về hoạt động để bảo tồn nguồn di truyền động vật đã đƣợc phê chuẩn với sự tham gia của 109 nƣớc [FAO, 2007a]. Sự thống nhất giữa các quốc gia này có vai trò quan trọng trong việc thiết lập mạng lƣới bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn di truyền động vật toàn cầu một cách có hiệu quả [FAO, 2007b].
Những nỗ lực hợp tác đa quốc gia để bảo tồn nguồn gen vật nuôi toàn cầu cũng đƣợc thể hiện một cách rõ ràng. Một ngân hàng thông tin toàn cầu về nguồn di truyền động vật của 205 nƣớc trên thế giới đã đƣợc xây dựng và cập nhật thƣờng xuyên (http://dad. Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng cung cấp thông tin về giống. Dựa trên cơ sở dữ liệu này các nhà đầu tƣ trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế có thể tiến tập tính khai thác và phát triển giống có tính trạng quý hiếm, đặc biệt theo hƣớng đặc sản hoặc phát triển thành hàng hóa.
FAO tiến hành dự án: “Xây dựng báo cáo đầu tiên về hiện trạng nguồn gen vật nuôi toàn cầu” Tại Ấn Độ, đã xây dựng một cơ quan chuyên trách bảo tồn qũy gen vật 3 nuôi và đang thực hiện nhiều dự án nhƣ: đa dạng nguồn gen vật nuôi; hệ thống thông tin nguồn gen quốc gia; nghiên cứu các đặc điểm di truyền và bảo tồn các giống Cừu, Dê vùng sa mạc; nghiên cứu tín hiệu phân tử dựa vào kiểm định di truyền các gen mắn đẻ ở các giống Cừu và Dê bản địa… Tại Mỹ có dự án: Chƣơng trình germplasma vật nuôi quốc gia Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều giống gà nội đã đƣợc lƣu giữ bảo tồn từ các nguồn kinh phí khác nhau và tiến hành ở các địa điểm khác nhau. 11 giống gà Trung Quốc đƣợc bảo tồn ở viện Gia cầm, viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiêp, Yangzhou và Trung tâm Nguồn gen gia cầm, Anhuni. Giống Chahua cũng đƣợc đánh giá có tiềm năng và sự đóng góp về di truyền cao, hiện nay đƣợc đƣa vào khai thác và sử dụng hiệu quả. Gần đây nhờ có kỹ thuật phát triển của công nghệ sinh học hiện đại các kỹ thuật di truyền phân tử đã đƣợc sử dụng trong công tác bảo tồn và sử dụng.
Hai chỉ thị phân tử Microsatellite và mitochondrial DNA đã đƣợc sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền trong và giữa các giống nhằm định hƣớng cho việc quản lý, bảo tồn và sử dụng nguồn gen vật nuôi toàn cầu. Trong nghiên cứu về các giống gà nội đƣợc bảo tồn ở các nƣớc Châu Âu, từ kết quả phân tích microsatellite, số liệu thu đƣợc đã sử dụng hai phƣơng pháp khác nhau (Weiztman, 1992; Eding và cộng sự 2002) để tính toán các giống gà nội ƣu tiên cho bảo tồn với mục đích bảo tồn để duy trì đa dạng và bảo tồn để khai thác và làm nguyên liệu cho công tác giống (Pinent và cộng sự 2005). Các nƣớc Đức, Pháp, Nauy, Ý, Balan đã tham gia vào tổ chức bảo tồn nguồn gen ở châu Âu. Sau khi các giống gà nội Châu Âu đƣợc nuôi dƣỡng bảo tồn và sử dụng kỹ thuật di truyền phân tử để đánh giá đa dạng di truyền, một số giống (Moewen, Marran, Jerhoens, Padova, chân xanh Partidge) có tính trạng quý, đặc trƣng cho từng nƣớc đã đƣợc tìm ra để khai thác phát triển.
Ở mức độ châu lục, giống gà Marran của Pháp đã đóng vai trò quan trọng để ƣu tiên phát triển, không những chỉ trong nƣớc mà còn nhân rộng rãi ở các nƣớc châu Âu khác (Granevitze Z. và cộng sự 2007). Ở Hungari, có 6 giống gà nội đƣợc đăng ký và giống Transylvanian Naked Neck Speckled Hodmezovasarhely thể hiện sự đóng góp vào nguồn gen quốc gia 4 cao nhất và đƣợc đƣa vào phát triển (Bodzsar, 2010). Vấn đề khai thác phát triển bền vững đã đƣợc FAO (2007b) định nghĩa và các nƣớc đã ủng hộ khái niệm này đó là: Phát triển bền vững là quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên và hƣớng tới sự thay đổi của kỹ thuật và tổ chức sao cho nó đảm bảo đƣợc và tiếp tục thỏa mãn nhu cầu con ngƣời cho thế hệ hiện nay và cả mai sau.
Sự phát triển bền vững để bảo vệ môi trƣờng, kinh tế sống động và xã hội tiếp nhận. Các giống vật nuôi là một bộ phận quan trọng của đa dạng sinh học, nó là tài sản quý giá hiện đang phát huy ý nghĩa kinh tế nhƣ là giống thuần thích nghi với điều kiện sinh thái địa phƣơng đồng thời còn là nguyên liệu phục vụ cho công tác lai tạo giống. Không riêng các loài dã thú bị uy hiếp nghiêm trọng do môi trƣờng sống bị thu hẹp và sự săn bắt của con ngƣời mà các giống vật nuôi dƣới tác động của thiên nhiên và áp lực của kinh tế thị trƣờng cũng bị mất dần và nghèo đi. Sự tuyệt chủng của nhiều giống vật nuôi địa phƣơng, những giống tuy năng suất thấp, nhƣng mang những đặc điểm quý giá nhƣ thơm ngon, chịu đựng dinh dƣỡng thấp, thích nghi với điều kiện sinh thái, Bộ Khoa học và công nghệ đã cho thực hiện đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi từ năm 1989 đến nay.K, Simianer H và cộng sự (2010; 2011) trong nghiên cứu về đa dạng di truyền và xác định đối tƣợng ƣu tiên bảo tồn giống gà nội Việt Nam sử dụng kỹ thuật Microsatellite kết hợp với các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiệt chủng của giống dựa vào các yếu tố kinh tế, xã hội đã chỉ ra rằng giống gà Mía là giống gà có đa dạng di truyền cao và khả năng tiệt chủng là thấp nhất.
Do vậy giống gà này không nên ƣu tiên để tiếp tục đầu tƣ bảo tồn mà nên nuôi giữ theo hƣớng khai thác, phát triển. Nhà xuất bản Lao động – xã hội (2002) Kỹ thuật chọn và nhân giống gà công nghiệp hƣớng thịt nhƣ: ISA-30MPK; AA; Cobb… và giống gà thả vƣờn Tam Hoàng; Lƣơng Phƣợng; Kabiir; Sasso… Cụ thể, giới thiệu kỹ thuật chọn và nhân giống bao gồm: Nhân giống gà thuần chủng; chọn giống gà ông bà; chọn gà con 1 ngày tuổi; chọn gà lúc 21 ngày tuổi hoặc 42 ngày tuổi; chọn gà lúc 19 -21 tuần tuổi; chọn giai đoạn gà đẻ; các phƣơng pháp lai (kinh tế, lai cải tiến, lai cải tạo, lai gây thành) 5 1. Tình hình nghiên cứu bảo tồn gà chín cựa tại Vườn quốc gia Xuân Sơn Theo số liệu điều tra và đánh giá hiện trạng gà chín cựa, giống nhƣ tên gọi của nó, chân có từ 6-8 cựa, sống theo tập tính hoang dã bầy đàn trong khu vực Vƣờn quốc gia Xuân Sơn. Vì thế, gà Chín cựa có đặc tính có khả năng bay cao và xa, khả năng kháng bệnh cao.