phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 3 chương với nội dung như sau: hươ g 1. ơ ở khoa học về h th ng Kiểm Soát Nội Bộ Kho Bạ Nhà Nước 5 hươ g 2. Thực trạng công tác Kiểm soát nội bộ tại Kho bạ Nhà ước tỉnh Thừa Thiên Huế hươ g 3. Giải pháp hoàn thi n công tác Kiểm soát nội bộ Kho bạ Nhà ước Thừa Thiên Huế 6 PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ Khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán. Lúc đó KSNB được hiểu như là một biện pháp để bảo vệ tiền không bị các nhân viên gian lận. Sau đó trong nhiều năm khái niệm này dần được mở rộng: Người ta cho rằng KSNB không chỉ bảo vệ tài sản (không chỉ có tiền) mà còn nhằm đảm bảo việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và tuân thủ các chính sách của nhà quản lý [3].
Sau hàng loạt các sự cố về tài chính và chính trị ở Hoa Kỳ vào những năm 70 (vụ Watergate 1973) dẫn đến sự ra đời của Luật chống hối lộ ở nước ngoài (1977); AICPA thành lập một Ủy ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979). Để tăng cường kiểm soát, giảm thiểu sai phạm, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đưa ra quy định bắt buộc các Giám đốc phải đưa ra báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp (1979) bên cạnh các báo cáo tài chính. Từ yêu cầu này, đã đưa đến việc thành lập Ủy ban nghiên cứu về KSNB đó chính là lý do Ủy ban COSO ra đời vào năm 1985. Sau khi được thành lập, COSO bắt tay nghiên cứu KSNB và đến năm 1992, Báo cáo COSO được ban hành.
Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Trong thời gian đầu báo cáo này chỉ được áp dụng tại Hoa Kỳ, cho đến những năm đầu thế kỷ 21, hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế (Ủy ban chuẩn mực kiểm toán quốc tế) đều sử dụng rộng rãi báo cáo này [5]. Khái niệm về KSNB theo COSO Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985, sau 5 năm làm việc, đến năm 1992 Ủy ban ban hành báo cáo COSO đầu tiên. Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khái niệm và các nhân tố tạo thành kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống.
Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài 7 chính mà được mở rộng ra cho cả các phương diện hoạt động và tuân thủ. Báo cáo này đã thiết lập khuôn mẫu chung giúp đơn vị đạt được mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. Hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông và Giám sát. Do môi trường hoạt động trong những năm đầu thế kỷ 21 đã có nhiều thay đổi, ngày càng trở nên phức tạp cùng với sự phát triển công nghệ quy mô toàn cầu, gian lận ngày càng tăng cao, đặc biệt là sự tham gia ngày càng nhiều của các bên có liên quan.
Do vậy, Báo cáo COSO 1992 đã không còn phù hợp. Năm 2013, COSO đã cập nhật Báo cáo giúp tổ chức thiết kế và phát triển hệ thống KSNB. Khuôn mẫu báo cáo COSO 2013 không thay thế những khái niệm cốt lõi đã được trình bày trong báo cáo 1992 mà chỉ cập nhật, bổ sung các đặc điểm mới cho phù hợp với sự thay đổi trong môi trường kinh doanh. Báo cáo COSO 2013 gồm ba phần: Phần một trình bày tổng quan về KSNB ở mức độ tóm tắt dành cho Ban Giám đốc, Giám đốc điều hành và các nhà quản lý; Phần thứ hai là khuôn mẫu KSNB, mô tả các thành phần của KSNB bao gồm 22 nguyên tắc và các thuộc tính, hướng dẫn các cấp quản lý thiết kế, triển khai, thực hiện đánh giá hệ thống KSNB; Phần thứ ba là công cụ đánh giá hệ thống KSNB, đưa ra các hướng dẫn gợi ý thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB.
Báo cáo COSO 2013 đã hệ thống hoá thành các nguyên t ắc (17 nguyên tắc) hỗ trợ cho 5 yế tố của KSNB. Ngoài ra, báo cáo COSO cũng đã mở rộng mục tiêu báo cáo là trình bày không chỉ cho người bên trong, mà còn cho người bên ngoài cũng như mở rộng mục tiêu phi tài chính [8]. Hướng dẫn chuẩn mực của KSNB của COSO 2013 đưa ra định nghĩa về KSNB như sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các “mục tiêu hoạ động, mục tiêu báo cáo, mục tiêu tuân thủ”. Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: Quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì một mục tiêu cụ thể có thể liên quan đến hai hoặc ba nhóm trên. Sự phân chia này chủ yếu dựa vào 8 sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với hệ thống KSNB của đơn vị: Nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu của đơn vị; Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của cổ đông, nhà đầu tư và chủ nợ; Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của đơn vị và các cơ quan quản lý [9]. Các yếu tố của hệ thống KSNB theo tổ chức COSO Theo khuôn mẫu KSNB của Báo cáo COSO, hệ thống KSNB bao gồm 5 yếu tố với 17 nguyên tắc như sau [8]: 1.Môi trường kiểm soát Là tập hợp các tiêu chuẩn, quy trình và các cấu trúc cung cấp cơ sở cho việc thực hiện KSNB trong toàn tổ chức. Hội đồng quản trị và quản lý cấp cao thiết lập, chỉ đạo và giám sát toàn bộ hoạt động KSNB.
Nhà Quản lý thực hiện các bước trên ở các cấp độ khác nhau của tổ chức. Theo Báo cáo COSO 201, có năm nguyên tắc liên quan đến môi trường kiểm soát, bao gồm: - Cam kết về sự trung thực và tuân thủ các giá trị đạo đức. - Chịu trách nhiệm giám sát. - Thiết lập cơ cấu quyền hạn và trách nhiệm.
- Sử dụng nhân viên có năng lực và có chính sách phát triển nguồn nhân lực - Yêu cầu cá nhân báo cáo và chịu trách nhiệm [9]. Đánh giá rủi ro Mọi tổ chức đều phải đối mặt với rủi ro từ bên trong và bên ngoài tổ chức. Rủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra và ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu. Đánh giá rủi ro là một quá trình lặp đi lặp lại để xác định rủi ro, đánh giá rủi ro làm cho đơn vị không đạt được mục tiêu.
Điều kiện kiên quyết để đánh giá rủi ro là việc thiết lập mục tiêu phải liên kết với các mức độ khác nhau của tổ chức. Đánh giá rủi ro yêu cầu người quản lý phải xem xét tác động môi trường bên ngoài và bên trong của tổ chức làm cho hoạt động KSNB kém hiệu quả. Có bốn nguyên tắc (principle) liên quan đến đánh giá rủi ro, bao gồm: - Xác định mục tiêu có liên quan. - Nhận diện và phân tích rủi ro.
- Đánh giá nguy cơ gian lận. 9 - Nhận diện và phân tích những thay đổi đáng kể [9].Hoạt ộng kiểm soát Là hành động được nhà quản lý thiết lập thông qua các chính sách, thủ tục đảm bảo giảm thiểu rủi ro để đạt mục tiêu. Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở mọi cấp của tổ chức, mọi lúc trong quy trình kinh doanh, trong môi trường công nghệ. Theo Báo cáo COSO 2013, có ba nguyên tắc (principle) liên quan đến hoạt động kiểm soát, bao gồm: - Các hoạt động kiểm soát được thiết lập trên cơ sở chọn lọc phù hợp.
- Thiết lập kiểm soát chung và sử dụng công nghệ thông tin vào ho ạt động kiểm soát. - Triển khai tuân thủ nghiêm ngặt các chính sách, thủ tục, quy định. Thông tin và truyền thông Nhà quản lý cần thu thập thông tin liên quan có chất lượng từ bên trong và bên ngoài để thực hiện trách nhiệm KSNB và hỗ trợ cho các yếu tố khác của KSNB đạt được mục tiêu đề ra. Truyền thông là quá trình liên t ục nhằm cung cấp, chia sẻ và nhận được thông tin cần thiết.
Thông tin nội bộ phải được thông suốt theo chiều từ trên xuống và từ dưới lên, giúp cho mọi nhân viên hiểu rõ thông điệp từ nhà quản lý cấp cao. Thông tin nhận được từ bên ngoài phải được thu thập nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu và mong đợi. Theo Báo cáo COSO 2013, có ba nguyên t ắc (principle) liên quan đến thông tin và truyền thông của đơn vị: - Thu thập hay tự tạo thông tin thích hợp, kịp thời có chất lượng. - Cần truyền thông nội bộ kịp thời và đúng đối tượng.
- Truyền thông bên ngoài các thông tin cần thiết [8]. Giám sát Là việc đánh giá hoạt động kiểm soát mà đơn vị đang thực hiện, có thể đánh giá riêng biệt hay kết hợp giữa giám sát thường xuyên và định kỳ. Giám sát thường xuyên phải được thực hiện một cách liên tục, lồng vào quy trình kinh doanh ở mọi cấp độ trong tổ chức. Giám sát định kỳ được tiến hành riêng biệt trong các phạm vi khác nhau và tần suất phụ thuộc vào việc đánh giá rủi ro của nhà quản lý.
Kết quả giám sát phải 10 được báo cáo đến nhà quản lý và Hội đồng quản trị. Theo báo cáo COSO 2013, có 2 nguyên tắc liên quan hoạt động giám sát: - Tiến hành đánh giá thường xuyên liên tục hoặc định kỳ. - Thông báo các khiếm khuyết cho các đối tượng có liên quan [9]. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG KSNB TRONG KHU VỰC CÔNG Các nghiên cứu về KSNB được phát triển mạnh, chuyên s âu vào các loại tổ chức hoặc các loại hình hoạt động khác nhau.