Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung 1.1 Kịch bản văn học là một thể loại diễn ngôn Theo từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ kịch đƣợc dùng theo hai cấp độ: - Cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phƣơng thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn lại vừa để đọc. Vì vậy, kịch bản chính là phƣơng diện văn học của kịch.
- Cấp độ thể loại, thuật ngữ kịch (dram) đƣợc dùng để chỉ một thể loại văn học sân khấu có vị trí tƣơng đƣơng với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch cũng còn gọi là chính kịch (hoặc kịch dram). Trong luận văn này, thuật ngữ kịch đƣợc sử dụng ở cấp độ thứ nhất, tức là cấp độ loại hình. Kịch bao gồm hai bộ phận lớn: kịch bản và trình diễn.
Kịch bản hay còn gọi là kịch bản văn học, do kịch tác gia viết, còn trình diễn là do đạo diễn chuyển kịch bản thành một ngôn ngữ phức hợp khác, thể hiện kịch bản trên sân khấu. Muốn thấy rõ đặc trƣng của kịch bản văn học, trƣớc hết cần có cách tiếp cận sát hợp, nếu tách rời nó với sân khấu, với mục đích viết ra là để trình diễn của kịch thì có thể không hiểu đƣợc đặc trƣng của loại hình văn bản nghệ thuật này. Trong các bộ môn sân khấu Việt Nam, kịch nói ra đời muộn nhất. Đến đầu thế kỉ XX, nó mới xuất hiện do bối cảnh lịch sử khá đặc biệt.
Ban đầu với mục đích truyền bá nền văn hoá “mẫu quốc” của nƣớc Đại Pháp trên tờ Đông Dƣơng tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trì, các kịch bản của Molie bắt đầu đƣợc dịch Nghiên cứu một số kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Huy Thiệp theo cách nhìn của lí thuyết hội thoại -6- z Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thanh Nga – Cao học NG50A sang tiếng Việt. Việc đem trình diễn một số tác phẩm sân khấu dịch ở Hà Nội đã tác động mạnh mẽ đến giới trí thức đƣơng thời. Nhiều ngƣời mong sân khấu Việt Nam có thể diễn các vở hài kịch theo lối thái Tây để bổ ích cho nhân dân phong tục nƣớc nhà. Bối cảnh đó đã tạo ra một phong trào sáng tác kịch nói đầu thế kỉ với các tên tuổi nhƣ Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Tô Giang, Trần Tuấn Khải, Hồ Trọng Hiến, Nguyễn Phú Kim, Đoàn Phú Tứ, Tƣơng Huyền… Trong đó, Vi Huyền Đắc đƣợc ngƣời đƣơng thời đánh giá cao với các tác phẩm tiêu biểu nhƣ Uyên ƣơng (1927), Mộng Hồ Điệp (1928), Ông Kí Cóp, Kim Tiền… Sau này, đến thời kì chống Pháp và chống Mĩ, kịch nói đã phát triển một cách rầm rộ và đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể về cả quy mô lẫn chất lƣợng vở diễn.
Tiêu biểu có thể kể đến các tác giả nhƣ Nguyễn Huy Tƣởng, Trúc Đƣờng, Nguyễn Đình Thi, Ngô Y Linh, Đào Hồng Cẩm… Tuy nhiên, với gần một thế kỉ kịch nói tồn tại ở Việt Nam, vấn đề về kịch nói và những nghiên cứu ngôn ngữ chuyên sâu về kịch nói vẫn còn ít và chƣa có những nghiên cứu thực sự cụ thể và sâu sắc. Rõ ràng, kịch bản văn học phải đƣợc xem xét và tìm hiểu nhƣ một thể loại của diễn ngôn. Bởi bên cạnh thơ, tiểu thuyết, kịch bản là một loại văn bản cần đƣợc nghiên cứu cụ thể và tỉ mỉ, không chỉ về cấu trúc của nó mà còn ở các khía cạnh khác. Trƣớc khi tìm hiểu về cấu trúc thông thƣờng của một kịch bản văn học, hãy xem xét lí thuyết phong cách chức năng nhìn kịch bản văn học nhƣ thế nào? Một số thể loại kịch có đặc trƣng chính là tính đối thoại.
Văn bản kịch viết ra không phải chỉ để đọc mà còn là để diễn viên trình diễn nhƣ thật, do đó nó có nhiều đặc điểm gắn liền với khẩu ngữ tự nhiên. Từ phong cách khẩu ngữ tự nhiên cho đến phong cách sáng tác kịch bản văn học là một quá trình chuyển hoá giữa các phong cách chức năng. Về nguyên tắc, đối thoại trong phong cách nghệ thuật đƣợc xây dựng trực tiếp từ các đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên. Nghiên cứu một số kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Huy Thiệp theo cách nhìn của lí thuyết hội thoại -7- z Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thanh Nga – Cao học NG50A Tuỳ thuộc theo cách thể hiện của từng tác giả mà các đối thoại đó đƣợc gia công khác nhau, đƣợc lọc bỏ những nét dƣ, nét rƣờm nhằm đảm bảo cho tính trong sáng của ngôn ngữ đối với việc thể hiện các ý đồ nghệ thuật.
Ở thể loại kịch, cũng xuất phát từ đặc trƣng cơ bản là đối thoại mà bối cảnh chung, tình huống của nhân vật cùng với quá trình theo dõi diễn xuất, tất cả những yếu tố trên đã tạo ra một thứ ngôn ngữ “tiền đề” không cần lặp lại trƣớc ngƣời xem. Chính vì lẽ đó, cú pháp trong ngôn ngữ kịch là một thứ cú pháp tỉnh lƣợc cao độ nhƣng hoàn toàn rất dễ chấp nhận và dễ hiểu. Mỗi nhân vật ở đây vốn đã mang một thông tin riêng về ngôn ngữ trong quá trình diễn biến logic của vở kịch. Câu nào nhân vật nói ra cũng nằm trong thế tỉnh lƣợc ở bề mặt.
Nhƣng ngƣời nghe tiếp nhận đầy đủ những cái cần có ở cấu trúc sâu. Sự không lặp lại những tiền giả định trong giao tiếp giữa các nhân vật và khán giả đƣợc thực hiện rất triệt để. Trong kịch ít khi xuất hiện ngƣời kể chuyện, chỉ có đối thoại giữa các nhân vật với nhau. Chính vì đƣợc xây dựng trên cơ sở các lời thoại nên ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ nghệ thuật gần với khẩu ngữ nhất.
Ngôn ngữ ở đây có phối hợp những hành động khác, tác động trực tiếp đến ngƣời nghe, tuỳ thuộc theo những phản ứng ngay tức khắc của đối tƣợng đối với từng ý, từng lời. Một kịch bản văn học có cấu trúc theo kiểu chƣơng hồi cảnh lớp, đây là cấu trúc đƣợc xếp từ lớn đến nhỏ. Tuy nhiên không phải kịch bản văn học nào cũng có cả 4 yếu tố trên. Có những vở kịch chỉ có hồi và cảnh, có những vở kịch lại có hồi cảnh và lớp… Điều này tuỳ thuộc vào cách xây dựng kịch bản văn học của từng tác giả.
Nhƣng dù ở kịch bản văn học nào thì chƣơng hồi cảnh lớp đều có mối liên quan hữu cơ theo tính thống nhất của tƣ tƣởng chủ đề. Tuy nhiên, nói nhƣ vậy không phải là các yếu tố này không có tính độc lập tƣơng đối, mà ngƣợc lại chúng đều có tính độc lập tƣơng đỗi, mỗi hồi, mỗi chƣơng hay mỗi Nghiên cứu một số kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Huy Thiệp theo cách nhìn của lí thuyết hội thoại -8- z Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thanh Nga – Cao học NG50A lớp trong kịch bản văn học lại có những chủ đề riêng, độc lập mặc dù chúng đều phục vụ cho đề tài chung của một kịch bản văn học.2 Đặc trưng của kịch bản văn học Nhƣ trên đã nói, không nên đánh đồng kịch bản văn học với nghệ thuật sân khấu nói chung. Kịch bản văn học đƣợc coi là một trong ba loại chính của văn học. Trong kịch bản văn học đúng là chủ yếu chỉ có đối thoại nhƣng đối thoại cũng chỉ là một trong những đặc điểm về hình thức của kịch bản văn học (nhƣng không phải là ngƣợc lại).
Sau đây, chúng ta sẽ cùng xét đến những đặc trƣng của một kịch bản văn học, về xung đột kịch, hành động và cốt truyện kịch, nhân vật kịch cũng nhƣ ngôn ngữ kịch.1 Xung đột kịch Xung đột kịch là đặc điểm về đề tài và chủ đề của kịch bản văn học. Trong tiểu thuyết, do không hạn chế về không gian và thời gian nên có thể phản ánh những mâu thuẫn trong cuộc sống một cách tỉ mỉ, sâu rộng, có thể đề cập đến những mâu thuẫn trong trạng thái manh nha, âm ỉ, cũng nhƣ ở những giai đoạn đối lập, đấu tranh, xung đột. Nhƣng đối với kịch bản văn học thì lại khác, thời gian trong câu chuyện của một kịch bản văn học đƣợc mô tả là thời gian ƣớc lệ, tức là có thể phóng đại không gian và thời gian.2 Hành động và cốt truyện kịch Cốt truyện và hành động kịch phải thống nhất, tập trung, đòi hỏi chi tiết, tình tiết sự kiện không những phải cô đúc, gãy gọn, mà còn phải liên đới nhau một cách chặt chẽ, logic, tất yếu, tự nhiên. Nhƣng điều đó không có nghĩa là đơn nhất, đơn giản.
Cốt truyện là nhằm triển khai xung đột. Cốt truyện kịch đƣợc dẫn dắt theo quy luật nhân quả, các mối liên hệ phải thật chặt chẽ, nhƣng không có nghĩa là quá tất yếu, quá hiển nhiên, vì nhƣ thế sẽ làm mất đi cái hay, cái hấp Nghiên cứu một số kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Huy Thiệp theo cách nhìn của lí thuyết hội thoại -9- z Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thanh Nga – Cao học NG50A dẫn của một kịch bản, mà trong kịch phải có những chỗ ngoặt, những đoạn đột biến, những bƣớc nhảy vọt.3 Nhân vật kịch Hãy so sánh, nếu không có nhân vật, ta vẫn có thể có một bài thơ. Còn trong tiểu thuyết, có nhân vật nhƣng đối với tiểu thuyết thì không chỉ có nhân vật. Nhƣng đối với kịch thì chỉ có nhân vật mà thôi.
Nhƣng lời chỉ dẫn về cảnh vật là không đáng kể và không thật cần thiết. Hơn nữa, nhân vật trong kịch bản văn học do hạn chế về không gian và thời gian sân khấu nên số lƣợng nhân vật kịch thƣờng không quá nhiều nhƣ trong tiểu thuyết. Ngoài ra, kịch bản văn học không có nhân vật kể chuyện. Trong tiểu thuyết, trong truyện, những con ngƣời đƣợc tác giả miêu tả hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn ở bên cạnh họ… kịch bản không cho phép tác giả đƣợc tự do can thiệp nhƣ vậy, kịch bản loại trừ việc tác giả mách nƣớc cho độc giả.
Tác giả ở đây đƣợc hiểu chính là ngƣời kể chuyện. Tính cách của nhân vật trong kịch thƣờng rất nổi bật. Điều này khác với nhân vật trong tiểu thuyết, vì nhân vật trong tiểu thuyết thƣờng đƣợc khắc hoạ tỉ mỉ, do vậy, tính cách rất phức tạp. Tính cách nhân vật kịch cũng không phải là tính cách đơn giản, một chiều, mà nó còn có các nét tính cách khác vừa liên đới, vừa biến thái, làm cho gƣơng mặt nhân vật sinh động, đa dạng.
Nhân vật kịch cũng thƣờng chứa đựng các cuộc đấu tranh nội tâm.