CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất. Biến đổi khí hậu đề cập đến sự thay đổi về khí hậu do của con người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, góp phần làm biến động khí hậu tự nhiên được quan sát, ghi nhận trong một khoảng thời gian có thể so sánh được.
Đối với một số hiện tượng khí hậu cực đoan: Lượng mưa ngày cực đại và số ngày mưa lớn, hạn hán cũng có xu thế tăng lên nhưng biến động mạnh theo không gian và có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng khí hậu. Tần suất bão hoạt động có xu hướng tăng lên ở các vĩ độ phía nam [2]. Biến đổi khí hậu tác động đến con người bằng nhiều cách khác, từ trực tiếp như nắng nóng, giá rét, lũ lụt và bão đến gián tiếp như thay đổi chất lượng không khí, chất lượng nước, mất cân bằng hệ sinh thái và phá vỡ hệ thống kinh tế xã hội. Sóng nhiệt và đêm đen nhiệt đới cũng là nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh cho con người, nhất là các bệnh truyền nhiễm [3].
Xu thế biến đổi của mưa lớn Xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn giảm trên các vùng khí hậu phía Bắc, tăng nhẹ ở vùng Tây Nam Bộ và tăng mạnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Sự tăng lên của số ngày mưa lớn trên các vùng là một điều đáng lo 4 ngại, vì nó liên quan đến những hiện tượng thiên tai như lũ lụt, sạt lở đất,… và ảnh hưởng xấu đến nông nghiệp điển hình là nghề cá. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự cho thấy nếu lượng mưa trung bình hàng năm khu vực ven biển tăng lên 100 mm (0,1m) thì sản lượng khai thác thủy sản sẽ giảm khoảng 2,2% [4]. Theo kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình thấp (RCP4.5) của Bộ Tài nguyên và Môi trường, vào đầu thế kỷ 21, lượng mưa/năm có xu thế tăng ở hầu hết cả nước, phổ biến từ 5-10%.
Vào giữa thế kỷ 21, mức tăng phổ biến từ 5-15%. Một số tỉnh ven biển Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ có thể tăng trên 20%. Đến cuối thế kỷ 21, mức biến đổi lượng mưa/năm có phân bố tương tự như giữa thế kỷ 21, tuy nhiên vùng có mức tăng trên 20% mở rộng hơn. Còn theo kịch bản nồng độ khí nhà kính cao (RCP8.5), vào đầu thế kỷ 21, lượng mưa/năm có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, phổ biến từ 3-10%.
Vào giữa thế kỷ 21, xu thế tăng tương tự như kịch bản RCP4. Đáng chú ý là vào cuối thế kỷ 21, mức tăng nhiều nhất có thể trên 20% ở hầu hết diện tích khu vực Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần diện tích Tây Nam Bộ và Tây Nguyên [5]. Lượng mưa/năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam. Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa/năm trong 50 năm qua (1958-2007) giảm xuống khoảng 2% [6].
Hiện tượng nắng nóng ở Việt Nam Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961-2014, nhiệt độ ngày cao nhất và nhiệt độ ngày thấp nhất có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 10C/10 năm. Số ngày nóng (số ngày có nhiệt độ cao nhất ≥ 35 0C) có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực của cả nước, đặc biệt là ở khu vực Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2-3 ngày/10 năm, 5 nhưng giảm ở một số nơi thuộc khu vực Tây Bắc, Nam Trung Bộ và khu vực phía Nam. Các kỷ lục về nhiệt độ trung bình cũng như nhiệt độ cao nhất liên tục được ghi nhận từ năm này qua năm khác [5]. Thay đổi nhiệt độ trung bình năm (0C) thời kỳ 1958-2014 * Nguồn: theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016) [5] 6 Biến trình năm của số ngày nắng nóng trung bình tháng cho thấy nắng nóng thường xuất hiện vào thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 ở các vùng khí hậu từ vùng núi phía Bắc cho tới vùng Nam Trung Bộ, nhiều nhất là từ tháng 6 đến tháng 8.
Ở vùng khí hậu vùng Tây Nguyên và vùng Đồng bằng Nam Bộ, nắng nóng thường xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 6; nhiều nhất từ tháng 3 đến tháng 5, mùa khô và là thời gian mặt trời đi qua thiên đỉnh lần thứ nhất trong năm. Trong thế kỷ 20, nhiệt độ bề mặt trung bình của thế giới tăng khoảng 0,6°C. Dĩ nhiên, có những ảnh hưởng tự nhiên đến khí hậu toàn cầu trong thời gian này. Chúng bao gồm sự gia tăng hoạt động núi lửa từ năm 1960 đến năm 1991 (khi núi Pinatubo phun trào) tạo ra bức xạ tự nhiên kết hợp với sự bất ổn từ các hoạt động của mặt trời đã đẩy nhanh nhiệt độ trên bề mặt trái đất [7].
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng hầu hết sự nóng lên toàn cầu từ năm 1950 là kết quả của hoạt động của con người. Lượng phát thải khí các- bô-níc toàn cầu hàng năm đã tăng lên một cách đáng kể từ năm 2000 trở lại đây. Nếu không có hành động quốc tế nào để nhanh chóng giảm phát thải, nhiệt độ toàn cầu trung bình (so với năm 2000) có khả năng tăng từ 1 đến 2°C vào năm 2050 và từ 3 đến 4°C vào năm 2100, bao gồm tăng lên đến 6 đến 7°C ở vĩ độ cao phía Bắc [8]. Theo Báo cáo về Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam, diễn biến nhiệt độ trung bình từ 1961 đến 2005 tại Việt Nam có những đặc điểm sau đây: - Nhiệt độ mùa đông, cũng như mùa hè và nhiệt độ năm từ 1990 đến 2005 cao hơn khoảng thời gian từ 1960 đến 1989.
- Cũng như nhiệt độ trung bình hàng năm, nhiệt độ trung bình trong mùa đông cũng biến đổi nhiều hơn trong mùa hè. 7 - Nửa thập kỷ 1996 – 2000 được coi là có nhiệt độ cao nhất, trên các vùng khí hậu phía Bắc và các vùng khí hậu phía Nam [9]. Ở Việt Nam, kết quả thống kê và phân tích nhiều năm qua cho thấy, BĐKH và nước biển dâng có những điểm đáng chú ý. Trong 50 năm (từ năm 1958 đến năm 2007) nhiệt độ trung bình/năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5oC đến 0,7oC.
Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam. Nhiệt độ trung bình/năm của 4 thập niên gần đây (từ năm 1961 đến năm 2000) cao hơn nhiệt độ trung bình/năm của 3 thập niên trước đó (từ năm 1931 đến năm 1960) [3]. Có sự sụt giảm đáng kể trên toàn quốc về số ngày và đêm lạnh trong giai đoạn từ 1961 đến 2010, đặc biệt là ở miền Bắc và Tây Nguyên. Dữ liệu giai đoạn 1981-2009 cho thấy hiện tượng sương muối xảy ra muộn hơn; thời gian kéo dài ngắn hơn và số ngày có sương muối đã giảm nhanh chóng trong thập kỷ qua.
Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm, đặc biệt là trong hai thập kỷ gần đây. Tuy nhiên, số lượng các đợt rét đậm, rét hại lại có sự biến đổi khá phức tạp và biến động mạnh từ năm này qua năm khác [10]. Bên cạnh đó, tại cùng khu vực Đông Nam Á, theo Nakhapakorn K. và cộng sự, số liệu về lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm tương đối hàng tháng được thu thập từ Cục Khí tượng học, Bộ Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Lan.
Ở Thái Lan, mưa xuất hiện chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9 và phần còn lại của năm vẫn khô hạn. Ngoài lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm cũng ảnh hưởng đến sự lan truyền bệnh SXH Dengue. Do độ ẩm cao trong mùa mưa, muỗi có điều kiện thuận lợi để tồn tại và sinh trưởng. Nhiệt độ trung bình ở tỉnh Sukhothai dao động từ 22°C đến 33°C trong 5 năm (1997-2001).
Nhiệt độ cao hơn 20°C là nhiệt độ thuận lợi cho muỗi Aedes aegypti sinh sản và phát triển. Độ ẩm tương đối trung bình trong 5 năm (1997-2001) là 95,6%. 8 Lượng mưa trung bình trong 30 năm (1969-2000) hàng tháng là 1.226,5 mm ở các vùng phía Bắc của Thái Lan [11]. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 7 TỈNH VEN BIỂN NAM BỘ 1.
Đặc điểm địa lý Bảy tỉnh ven biển Nam Bộ trong nghiên cứu bao gồm Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang. Đây là các tỉnh ven biển thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ. Khu vực Tây Nam Bộ, còn gọi là vùng Đồng bằng Nam Bộ hay là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và là một bộ phận của Châu thổ sông Mê Kông có diện tích 40. Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2017, dân số vùng Tây Nam Bộ là 17,7 triệu người và mật độ dân số khoảng 435 người/km2 [12].
Vùng Tây Nam Bộ có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. Vùng Tây Nam Bộ được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Vùng Tây Nam Bộ có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, có tiềm năng lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, phát triển vườn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả nước và mở rộng giao lưu với khu vực và thế giới.
Sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới vùng Tây Nam Bộ BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21.