Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu tính kháng thuốc của rầy nâu nilaparvata lugens hại lúa ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu nilaparvata lugens stal hại lúa ở một số vùng, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

195
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5. Những đóng góp mới của đề tài

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

1.2. Cơ chế tác động của thuốc trừ sâu đến côn trùng

1.3. Cơ chế kháng thuốc của rầy nâu

1.4. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc

1.4.1. Tác hại của rầy nâu

1.4.2. Đặc điểm sinh học của rầy nâu

1.4.3. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

1.4.4. Tính kháng thuốc của rầy nâu

1.4.4.1. Tính kháng của rầy nâu với một số hoạt chất thuốc
1.4.4.2. Sự phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu

1.5. Sự giảm tính kháng thuốc của rầy nâu khi không tiếp xúc với

1.6. Tính kháng chéo thuốc của quần thể rầy nâu

1.7. Những nghiên cứu giải thích cơ chế kháng thuốc của rầy nâu

1.8. Biện pháp quản lý tính kháng thuốc

1.9. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc

1.9.1. Tác hại của rầy nâu

1.9.2. Đặc điểm sinh học của rây nâu

1.9.3. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

1.9.4. Nghiên cứu tính kháng thuốc của rầy nâu

1.9.4.1. Tính kháng của rầy nâu với một số hoạt chất thuốc
1.9.4.2. Sự phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu
1.9.4.3. Những nghiên cứu giải thích cơ chế kháng thuốc của rầy nâu

1.10. Hiệu lực của một số hoạt chất thuốc BVTV trong phòng trừ rầy nâu

2. CHƢƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.4.1. Phƣơng pháp xác định hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng chống rầy nâu hại lúa ở một số vùng trồng lúa tại Việt Nam

2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu đối với một số nhóm thuốc bảo vệ thực vật ở một số vùng trồng lúa tại Việt Nam

2.4.2.1. Phƣơng pháp xác định mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu ở một số vùng trồng lúa tại Việt Nam
2.4.2.2. Nghiên cứu giải thích cơ chế kháng thuốc của rầy nâu
2.4.2.3. Khả năng kháng thuốc chéo của quần thể rầy nâu đã kháng hoạt chất imidacloprid đối với một số hoạt chất khác phòng chống rầy nâu
2.4.2.4. Ảnh hƣởng của hoạt chất thuốc đến một số đặc điểm sinh vật học của rầy nâu sau khi tiếp xúc với thuốc

2.4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu giải pháp hợp lý để quản lý tính tính kháng thuốc của rầy nâu

2.4.3.1. Nghiên cứu biện pháp sử dụng giống lúa kháng trong quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu
2.4.3.2. Nghiên cứu biện pháp sử dụng thuốc hóa học trong quản lý tính khánh thuốc của rầy nâu

2.4.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu

3. CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hại lúa ở một số vùng trồng lúa

3.1.1. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hại lúa ở Hƣng Yên

3.1.2. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hại lúa ở Nam Định

3.1.3. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hại lúa ở Nghệ An

3.1.4. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hại lúa ở Phú Yên

3.1.5. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hại lúa ở An Giang

3.2. Tính kháng thuốc của rầy nâu với một số nhóm thuốc chính ở một số vùng trồng lúa

3.2.1. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu với các hoạt chất sử dụng phổ biến phòng chống rầy nâu hại lúa

3.2.1.1. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất imidacloprid
3.2.1.2. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất nitenpyram
3.2.1.3. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất fenobucarb
3.2.1.4. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất sulfoxaflor
3.2.1.5. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất pymetrozine
3.2.1.6. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất buprofezin
3.2.1.7. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất dinotefuran

3.2.2. Kết quả nghiên cứu giải thích cơ chế kháng thuốc của rầy nâu

3.3. Khả năng kháng thuốc chéo của quần thể rầy nâu đã kháng hoạt chất imidacloprid đối với một số hoạt chất khác phòng chống rầy nâu

3.4. Ảnh hƣởng của hoạt chất thuốc đến một số đặc điểm sinh vật học của rầy nâu sau khi tiếp xúc với thuốc

3.4.1. Ảnh hƣởng của hoạt chất nitenpyram và imidacloprid đến sức sinh sản của dạng hình rầy nâu cánh dài và cánh ngắn

3.4.2. Ảnh hƣởng của hoạt chất nitenpyram và imidacloprid đến dạng hình cánh của rầy nâu

3.4.3. Nghiên cứu giải pháp hợp lý để quản lý tính tính kháng thuốc của rầy nâu

3.4.3.1. Nghiên cứu biện pháp sử dụng giống lúa kháng trong quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu
3.4.3.1.1. Đánh giá tính kháng của các giống lúa trồng phổ biến ở An Giang với quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens (Stål) ở An Giang
3.4.3.1.2. Ảnh hƣởng của giống lúa đến mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An Giang sau một số thế hệ không tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid
3.4.3.1.3. Ảnh hƣởng của giống lúa đến mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An Giang sau một số thế hệ tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid

3.4.4. Nghiên cứu biện pháp sử dụng thuốc hóa học trong quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu

3.4.4.1. Hiệu lực của một số thuốc sử dụng phổ biến trong phòng chống rầy nâu
3.4.4.2. Hiệu quả luân phiên các thuốc trong phòng chống rầy nâu

3.5. Độ độc của một số thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu đến bọ

3.5.1. Giá trị LC50 của một số thuốc đối với bọ xít mù xanh, rầy nâu

3.5.2. Chỉ số độc của một số thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu đối với bọ xít mù xanh

3.6. Đề xuất một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về rầy nâu và kháng thuốc

Rầy nâu (Nilaparvata lugens) là một trong những loài côn trùng gây hại nghiêm trọng nhất cho cây lúa tại Việt Nam. Chúng không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho cây trồng mà còn là vector truyền bệnh vi rút vàng lùn và lùn xoắn lá. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để kiểm soát rầy nâu đã trở thành một biện pháp phổ biến. Tuy nhiên, sự gia tăng sử dụng thuốc BVTV đã dẫn đến tình trạng kháng thuốc ngày càng nghiêm trọng. Theo nghiên cứu, tính kháng thuốc của rầy nâu có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng trồng lúa, phụ thuộc vào điều kiện canh tác và loại thuốc được sử dụng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kháng thuốc của rầy nâu để có thể đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1 Tác hại của rầy nâu

Rầy nâu gây ra thiệt hại lớn cho sản xuất lúa ở Việt Nam, với hàng trăm nghìn hecta bị ảnh hưởng mỗi năm. Chúng không chỉ làm giảm năng suất mà còn làm tăng chi phí sản xuất cho nông dân. Sự bùng phát của rầy nâu thường xảy ra vào mùa vụ, gây khó khăn cho việc quản lý dịch hại. Việc nghiên cứu tác hại của rầy nâu là cần thiết để hiểu rõ hơn về mức độ thiệt hại và từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

1.2 Cơ chế kháng thuốc của rầy nâu

Cơ chế kháng thuốc của rầy nâu rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm loại thuốc, tần suất sử dụng và điều kiện môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng rầy nâu có thể phát triển khả năng kháng thuốc thông qua các cơ chế sinh học như thay đổi cấu trúc enzyme hoặc tăng cường khả năng đào thải thuốc ra khỏi cơ thể. Điều này làm cho việc kiểm soát rầy nâu trở nên khó khăn hơn và yêu cầu các chiến lược quản lý mới.

II. Tình hình nghiên cứu kháng thuốc tại Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về kháng thuốc của rầy nâu tại Việt Nam đã được thực hiện trong nhiều năm qua. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính kháng thuốc của rầy nâu đang gia tăng, đặc biệt là đối với các hoạt chất như imidacloprid và nitenpyram. Việc theo dõi và đánh giá mức độ kháng thuốc là rất quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc sử dụng thuốc không hợp lý là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng thuốc. Do đó, cần có các biện pháp quản lý hợp lý để giảm thiểu tình trạng này.

2.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV

Việc sử dụng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu hiện nay vẫn là biện pháp chính. Tuy nhiên, nhiều nông dân vẫn chưa có kiến thức đầy đủ về cách sử dụng thuốc hiệu quả, dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc. Điều này không chỉ làm tăng nguy cơ kháng thuốc mà còn ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Cần có các chương trình đào tạo và tuyên truyền để nâng cao nhận thức của nông dân về việc sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả.

2.2 Đề xuất biện pháp quản lý kháng thuốc

Để quản lý tình trạng kháng thuốc của rầy nâu, cần áp dụng các biện pháp tổng hợp, bao gồm việc luân phiên sử dụng các loại thuốc khác nhau, kết hợp với các biện pháp sinh học và canh tác. Việc sử dụng giống lúa kháng cũng là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại do rầy nâu gây ra. Ngoài ra, cần có sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, nông dân và cơ quan quản lý để xây dựng các chiến lược quản lý dịch hại bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lúa là một trong những loại cây lương thực quan trọng và là nguồn cung cấp lương thực chính cho 1/3 dân số thế giới (Jena and Kim, 2010) [62]. Ở Việt Nam, dân số trên 90 triệu dân và hầu hết sử dụng lúa gạo làm lương thực chính hàng ngày. Vì vậy, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, sản xuất lúa bị ảnh hưởng bởi nhiều loại sâu bệnh gây hại. Trong đó, rầy nâu Nilaparvata lugens (Homoptera: Delphacidae) là đối tượng hại nguy hiểm nhất (Dyck and Thomas, 1979) [46]. Trong những năm gần đây, rầy nâu đã và đang gây ra những thiệt hại đáng kể ở một số nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Banglades. Ở Việt Nam, rầy nâu cũng là đối tượng hại nguy hiểm và gây ra những thiệt hại lớn nhất cho sản xuất lúa.

Từ năm 1999 đến 2003, trung bình mỗi năm cả nước có 408.908 ha bị rầy phá hại, trong đó 34.287ha bị hại nặng và 179ha mất trắng (Nguyễn Văn Đĩnh và Bùi Sỹ Doanh, 2010) [7]. Năm 2016, tại các tỉnh phía Nam và một số tỉnh đồng bằng sông Hồng rầy nâu bùng phát với diện tích gần 150 nghìn ha, trong đó có trên 20 nghìn ha bị nhiễm nặng (Cục Bảo vệ thực vật, 2016) [5]. Rầy nâu càng trở nên nguy hiểm hơn khi nó là vector truyền bệnh vi rút vàng lùn (VL), lùn xoắn lá (LXL) và gây hại trên diện rộng trong thời gian gần đây. Ở các tỉnh Nam Bộ, mặc dù bệnh đã được khống chế nhưng rầy nâu vẫn gây hại trên diện tích 332,941ha.

Ở các tỉnh phía Bắc, rầy nâu luôn là đối tượng nguy hiểm gây hại trực tiếp trên lúa và là mối nguy hiểm tiềm ẩn tham gia truyền bệnh vi rút LXL, diện tích bị hại năm 2010 là 708.131ha, nhiễm nặng là 95. Sử dụng thuốc hóa học vẫn là sự lựa chọn hàng đầu trong các biện pháp phòng chống rầy nâu hiện nay. Thực tế cho thấy biện pháp này mang lại hiệu luan an 2 quả phòng chống rầy nâu cao và dập tắt nhanh sự bùng phát dịch ở quy mô lớn. Tuy nhiên, diện tích bị rầy nâu phá hại tăng sẽ kéo theo lượng thuốc BVTV dùng phòng chống rầy nâu tăng lên (Nguyễn Thị Me và cs.

Việc tăng số lượng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu dẫn đến nguy cơ gia tăng khả năng kháng thuốc của rầy nâu và tính kháng chéo giữa các loại thuốc. Ngoài ra, thời gian cơ cấu mùa vụ giữa các vùng khác nhau, kết hợp với khả năng di cư của rầy nâu là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ kháng thuốc của rầy nâu. Một trong những nguyên nhân làm nhiều loại thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu không đạt hiệu quả cao như trước là do rầy nâu đã hình thành và gia tăng khả năng kháng thuốc. Khi rầy nâu đã kháng thuốc, sẽ gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý rầy nâu trong sản xuất lúa.

Việc nghiên cứu, theo dõi diễn biến tính kháng của rầy nâu đối với các loại thuốc BVTV sử dụng phổ biến phòng chống rầy nâu hiện nay trở nên cấp thiết, cần thực hiện có tính hệ thống và liên tục trong nhiều năm. Từ đó, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sự hình thành và phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu. Xuất phát từ những luận điểm nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) hại lúa ở một số vùng trồng lúa tại Việt Nam”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định hiện trạng sử dụng thuốc BVTV và tính kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh trồng lúa, làm cơ sở khoa học đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học - Cung cấp dẫn liệu về mức độ kháng và sự phát triển tính kháng thuốc luan an 3 BVTV của rầy nâu đối với một số hoạt chất tại một số tỉnh góp phần đề xuất và lựa chọn sử dụng các thuốc phòng chống rầy nâu hiệu quả. - Cung cấp dẫn liệu về ảnh hưởng của hoạt chất imidacloprid, nitenpyram đến một số đặc điểm sinh học của rầy nâu và độ độc của một số hoạt chất thuốc đối với bọ xít mù xanh là kẻ thù tự nhiên quan trọng của rầy nâu. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài góp phần áp dụng các giải pháp sử dụng thuốc, giống lúa kháng để phòng chống rầy nâu đạt hiệu quả, từ đó giảm thiểu tính kháng thuốc của rầy nâu trong sản xuất.

- Luận án là tài liệu tham khảo tin cậy, cung cấp các dẫn liệu khoa học cho tập huấn chuyên môn về quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài Tính kháng của các quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens tại một số tỉnh trồng lúa điển hình: Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đối với một số hoạt chất thuốc BVTV sử dụng trong phòng chống rầy nâu. Phạm vi nghiên cứu của đề tài - Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu tại một số tỉnh trồng lúa điển hình: Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang.

- Ảnh hưởng của hoạt chất thuốc hóa học đến đặc điểm sinh học của rầy nâu. - Nghiên cứu đề xuất chiến lược quản lý tính kháng thuốc BVTV của rầy nâu. Những đóng góp mới của đề tài - Bổ sung dẫn liệu khoa học mới về mức độ kháng thuốc của rầy nâu đối với một số hoạt chất thuốc thuộc nhóm Neonicotinoid, Carbamate, điều hòa sinh trưởng, Pyridine azomethine, Sulfloximines. luan an 4 - Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về ảnh hưởng của thuốc BVTV đến một số đặc điểm sinh vật học, ảnh hưởng của giống lúa đến sự phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu và độ độc của thuốc đối với bọ xít mù xanh.

- Đề xuất được một số biện pháp phòng chống rầy nâu đạt hiệu quả và giảm tính kháng thuốc của rầy nâu. luan an 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài Rầy nâu đã được ghi nhận tại hầu hết các nước trồng lúa như Ấn Độ, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc… Đây là loài côn trùng có khả năng sinh sản cao, dễ phát triển thành các quần thể mới (Lưu Thị Ngọc Huyền, 2003) [12]. Chúng là một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất trên lúa ở Châu Á, chích hút dinh dưỡng của cây lúa gây hiện tượng cháy rầy, đồng thời còn là vector truyền một số bệnh vi rút nguy hiểm như bệnh lúa vàng lùn và bệnh lúa lùn xoắn lá.

Hiện nay, sử dụng biện pháp hóa học vẫn là lựa chọn quan trọng để quản lý rầy nâu trong sản xuất lúa. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc không hợp lý là một trong những nguyên nhân hình thành và phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu. Tính kháng thuốc của rầy nâu khác nhau ở nhiều vùng địa lý,với mùa vụ và hệ thống canh tác không giống nhau. Sự thay đổi, phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu rất phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện canh tác của các vùng trồng lúa.

Các hoạt động sản xuất của con người có tác động rất lớn đến tính kháng thuốc của rầy nâu trên đồng ruộng. Vì vậy, tính kháng thuốc của rầy nâu thay đổi, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng trồng lúa. Rầy nâu có thể đã kháng với thuốc ở vùng này nhưng chưa chắc đã kháng với thuốc ở vùng kia. Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy nâu ở quốc gia này cũng chưa chắc phù hợp với quốc gia khác và những biện pháp phòng chống, quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu hiệu quả ở nước này chưa chắc đã có thể áp dụng cho nước khác.

Ngoài ra, sự đa dạng về chủng loại thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu, mạng lưới lưu thông rộng rãi, làm cho công tác quản lý thuốc gặp nhiều khó khăn. Việc gia tăng sử dụng thuốc và sử dụng thuốc không đúng để phòng luan an 6 chống rầy nâu đã làm thay đổi tính kháng thuốc của rầy nâu. Mặt khác, những hiểu biết về tính kháng thuốc của rầy nâu là cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp hạn chế tính kháng thuốc của rầy nâu. Những điểm nêu trên là cơ sở khoa học của đề tài luận án.

Cơ chế tác động của thuốc trừ sâu đến côn trùng Tính kháng thuốc có nghĩa là một số cá thể của một quần thể có khả năng chống chịu được khi tiếp xúc với chất độc hóa học và các cá thể này phát triển rộng ra. Khi cá thể đó đã trở thành một số lượng lớn các cá thể của quần thể và tính chống thuốc được tiếp diễn sang những thế hệ sau, dù có hay không tiếp xúc với chất độc thì quần thể đó đã trở thành kháng thuốc (Rudd, 1970) [83]. Tính kháng chéo: là hiện tượng khi một loài côn trùng nào đó không những kháng với các hợp chất thuốc được sử dụng liên tục qua nhiều thế hệ mà còn kháng được một hay nhiều hợp chất thuốc khác khi dòng kháng đó chưa hề tiếp xúc (Nina, 2001) [75]. Có hai trường hợp kháng chéo: tính kháng chéo cùng nhóm là côn trùng có khả năng kháng được các loại thuốc trừ sâu cùng nhóm với loại thuốc côn trùng đã kháng được.

Tính kháng chéo khác nhóm là côn trùng có khả năng kháng được thuốc không cùng nhóm thuốc côn trùng đã kháng dù chưa tiếp xúc. Mỗi loại hoạt chất thuốc trừ sâu có cách tác động đến côn trùng khác nhau, thông thường cơ chế tác động của thuốc có thể chia ra như sau: - Nhóm Neonicotinoid: Tăng cường hoạt tính của các enzim monoxygenase phụ thuộc cytochrome P450 (cytochrome P450-dependent monoxy-genases) có tác động ức chế, cản trở sự vận chuyển ion (chủ yếu Cl-) của Gamma Amino Butyric Acid (GABA) ngay đỉnh mối nối luồng thần kinh (synap) với nhau. Thụ thể nicotinic acetylcholine (nAChR) tác động tê liệt thần kinh. - Nhóm Phenyl pyrazoles: Có tác động ức chế, cản trở sự vận chuyển luan an 7 ion (chủ yếu Cl-) của Gamma Amino Butyric Acid (GABA) ngay đỉnh mối nối luồng thần kinh (synap) với nhau làm rối loạn phản ứng chức năng của hệ thần kinh trung ương dẫn đến côn trùng chết.

- Nhóm pyrethroid: Tác động lên hệ thần kinh, cản trở sự vận chuyển của ion (chủ yếu Na+ và K+) theo sợi trục, qua màng, làm mất điện thế khiến cho thần kinh bị tê liệt. Tăng cường hoạt tính của enzim Glutathione S- transferase.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tính kháng thuốc của rầy nâu nilaparvata lugens hại lúa ở Việt Nam" của tác giả Bùi Xuân Thắng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Hồ Thị Thu Giang và PGS. Michael Kristensen, được thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích khả năng kháng thuốc của rầy nâu, một loại sâu hại lúa quan trọng tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp bảo vệ cây lúa hiệu quả hơn. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kháng thuốc của rầy nâu mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về các biện pháp quản lý dịch hại trong nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và bảo vệ thực vật, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu vật liệu khởi đầu cho giống lúa kháng rầy nâu, nơi cung cấp thông tin về việc phát triển giống lúa có khả năng kháng rầy nâu, và Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long, giúp bạn hiểu thêm về các biện pháp sinh học trong quản lý sâu hại. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các thách thức và giải pháp trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay.