Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về kháng thể kháng hồng cầu 1. Định nghĩa Kháng thể kháng hồng cầu là những immunoglobulin (Ig). Các kháng thể nhóm máu chủ yếu là IgG, IgM và một số ít là IgA, gồm có hai loại là kháng thể tự nhiên và bất thường. IgG IgM Vị trí kết Chuỗi nặng Vị trí kết hợp kháng hợp kháng nguyên nguyên Bản lề Chuỗi nhẹ Vùng Thụ thể Fab Fc/vị ví kết hợp bổ thể Vùng Fc Mãnh đuôi Màng tế bào B Cầu đi sulphua ----- -- Lĩnh vực Ig Hình 1.1 Cấu trúc kháng thể IgM và IgG (Nguồn: Nguyễn Ngọc, năm 2003 [14]) 4 1.2 Phân loại Có 2 loại kháng thể: - Kháng thể tự nhiên: là kháng thể thường gặp như kháng thể nhóm máu ABO, thường là IgM.
Kháng thể tự nhiên có thể tìm thấy ở người chưa từng nhận máu hoặc chế phẩm máu, chưa tiêm vaccin. Các kháng thể này được hình thành do trong cơ thể có những tế bào miễn dịch có khả năng sản xuất các kháng thể mà không có sự kích thích của kháng nguyên hoặc các kháng thể hình thành do đáp ứng các chất có trong môi trường mang đặc tính tương tự kháng nguyên nhóm máu. - Kháng thể bất thường (KTBT): gồm kháng thể tự miễn, kháng thể miễn dịch, thường là loại IgG. Là kháng thể hình thành khi cơ thể gặp các kháng nguyên lạ, như trong trường hợp truyền máu hoặc quá trình mang thai.
Kháng thể này được gọi là kháng thể dị loại (alloantibody). Bản chất của các kháng thể miễn dịch là IgG, còn được gọi là các kháng thể có ý nghĩa lâm sàng, các kháng thể này thích hợp hoạt động ở 37°C và kháng globulin người và là kháng thể thuộc các hệ nhóm máu Rh, Kell, Kidd, Duffy, MNS.; trong khi đó kháng thể của một số hệ nhóm máu khác như hệ MNS (M, N), Knop, Chido. lại là kháng thể tự nhiên, có bản chất là IgM, các kháng thể này thường ít và không có ý nghĩa lâm sàng hoặc chỉ có ý nghĩa lâm sàng khi hoạt động ở 37°C [34], [53]. Một số nhóm máu có vai trò quan trọng trong thực hành truyền máu Trên màng hồng cầu cấu trúc quan trọng là các phân tử mang các kháng nguyên nhóm máu.
Bề mặt của hồng cầu có từ 379 đến 400 kháng nguyên. Các kháng nguyên này có tính sinh miễn dịch và gây khó khăn trong việc truyền máu [24], [32], [39]. Hệ nhóm máu ABO Karl Landsteiner đã phát hiện ra hệ nhóm máu ABO vào năm 1901. Hệ nhóm máu ABO gồm có bốn nhóm chính là: nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O.
Cho đến nay, người ta đã phát hiện được khá nhiều dưới nhóm của nhóm máu A như A1, A2, A3, Ax và nhóm B như B3, Bx, Bm… [4], [54]. Kháng nguyên của hệ nhóm máu ABO gồm có 4 loại là A; B; AB và A1, thường xuất hiện sớm vào khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai. Gen mã hóa tổng hợp các kháng nguyên nhóm máu hệ ABO là ABO nằm trên nhiễm sắc thể số 9 [54], [57]. Các kháng thể của hệ nhóm máu ABO thường là kháng thể tự nhiên, trong đó kháng thể chống A và kháng thể chống B có bản chất là IgM, thích hợp hoạt động ở nhiệt độ từ 22°C đến 4°C, thường xuất hiện ngay sau khi sinh, tăng dần hiệu giá và đạt mức như người trưởng thành vào thời điểm từ 5 đến 10 tuổi, không qua được hàng rào nhau thai, không bao giờ có trong huyết thanh của người bình thường có kháng nguyên tương ứng trên bề mặt hồng cầu.
Kháng thể chống A và chống B cũng có thể là kháng thể miễn dịch, có bản chất là IgG, thích hợp hoạt động ở 37°C, được hình thành qua một quá trình đáp ứng miễn dịch do tiếp xúc với kháng nguyên của hệ ABO, gặp trong trường hợp bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con, truyền máu không hoà hợp hệ ABO, các kháng thể miễn dịch này có thể lọt qua hàng rào nhau thai, có khả năng kết hợp với bổ thể và gây tan máu trong lòng mạch [20], [33]. Hệ nhóm máu ABO là hệ nhóm máu có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hành truyền máu; truyền máu không hoà hợp có thể gây tai biến truyền máu nghiêm trọng do hồng cầu của người cho bị ngưng kết trực tiếp bởi các kháng thể tương ứng có sẵn trong huyết thanh của người nhận và cùng với sự có mặt của bổ thể sẽ gây tan máu cấp trong lòng mạch, tính mạng của 6 người bệnh có thể bị đe dọa nếu không xử trí, cấp cứu kịp thời (Hình 1. Tan máu cấp trong lòng mạch do truyền nhầm nhóm máu hệ ABO (Nguồn: Jonh P. Hệ nhóm máu Rhesus Hệ nhóm máu Rhesus (Rh) đã được phát hiện bởi nhà bác học Karl Landsteiner và Wiener vào năm 1940, gọi tắt là Rh.
Đến nay đã có 54 kháng nguyên khác nhau của hệ nhóm máu Rh được phát hiện, trong đó chỉ có 5 kháng nguyên quan trọng nhất của hệ Rh là D, D, c, E, e. kháng nguyên D là quan trọng nhất vì tính sinh kháng thể mạnh [9], [55]. Bản chất của kháng thể hệ nhóm máu Rh hầu hết là IgG kháng thể miễn dịch, ngoại trừ một tỉ lệ thấp anti-D và anti-E có bản chất là IgM, nên có thể gây ngưng kết hồng cầu ở nhiệt độ dưới 37oC, trong môi trường nước muối [9], [40]. Hệ nhóm máu Kell Hệ nhóm máu Kell cũng được phát hiện vào năm 1946, bởi các nhà bác học Coombs, Mourant và Race.
Họ tìm ra một kháng thể lạ có trong máu của 7 một sản phụ tên là Kellerher, kháng nguyên tương ứng với kháng thể này được ông đặt tên là Kell (K) [32]. Hiện nay hệ nhóm máu Kell đã phát hiện được 35 kháng nguyên khác nhau, trong đó hai kháng nguyên chính của hệ Kell là K và k. kháng nguyên K rất hiếm gặp ở người Châu Á và ở Việt Nam, ngược lại kháng nguyên k xuất hiện 100% ở người Việt Nam. Bản chất anti-K và anti-k là IgG.
Anti-K phản ứng rất mạnh với hồng cầu mang kháng nguyên K và có thể gây ra tan máu trong lòng mạch [9], [35]. Hệ nhóm máu Kidd Alle và cộng sự năm 1951 đã phân lập được một kháng thể đặc hiệu chống kháng nguyên Jka trong huyết thanh của một sản phụ tên là Kidd. Hệ nhóm máu Kidd gồm hai kháng nguyên chính là Jka và Jkb. Khả năng sinh miễn dịch của Jka và Jkb thấp, nhất là là Jkb.
Bản chất Anti-Jka và anti-Jkb hầu hết là kháng thể miễn dịch IgG. Các kháng thể của hệ Kidd có thể gây tai biến tán huyết muộn, đôi khi là tán huyết cấp trong các trường hợp truyền máu không hòa hợp hệ Kidd [9]. Hệ nhóm máu Duffy Cutbush và cộng sự, đã phát hiện một kháng thể bất thường có trong máu của bệnh nhân tên là Duffy vào năm 1950, kháng nguyên tương ứng với kháng thể này được đặt tên là kháng nguyên Fya. Fya và Fyb là hai kháng nguyên chính của hệ nhóm máu Duffy.
Kháng nguyên Fya gặp tới 99% ở người châu A, 66% ở người da trắng và chỉ gặp 10% ở người da đen. Bản chất Anti-Fya và anti-Fyb là kháng thể miễn dịch IgG [9], [35]. Hệ nhóm máu MNS Hệ thống nhóm máu MNS đã được Landsteiner phát hiện năm 1927, đến nay đã có 46 kháng nguyên của hệ nhóm máu MNS được xác định, tuy 8 nhiên, một số kháng nguyên quan trọng của hệ nhóm máu MNS là M, N, S, s và Mia [9], [35]. Tỉ lệ kháng nguyên M, N, s gặp khá cao ở người Việt Nam, tỉ lệ kháng nguyên Mia thấp, kháng nguyên này rất hiếm gặp ở người da trắng và da đen.
Bản chất Anti-S và anti-s thường là IgG, thích hợp hoạt động ở điều kiện kháng globulin người. Anti-Mia thường gặp ở người Đông Nam Á, hầu hết có bản chát là IgG, thích hợp hoạt động ở điều kiện kháng globulin người, một số ít có bản chất là IgM, thích hợp hoạt động ở điều kiện nhiệt độ phòng. Anti-Mia có thể gây tan máu trong lòng mạch [9], [35]. Cơ chế tạo, sàng lọc và định danh kháng thể bất thường hồng cầu 1.
Sự không hòa hợp kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu Các điều kiện bắt buộc phải có là sự không hòa hợp kháng nguyên nhóm máu hồng cầu giữa người hiến máu và người nhận, phải có sự bất đồng kháng nguyên nhóm máu giữa mẹ và con [30], [31]. Trong những trường hợp có bất đồng kháng nguyên nhóm máu giữa mẹ và thai. Các tế bào hồng cầu của thai mang các kháng nguyên được thừa hưởng của người cha, các kháng nguyên này lại không có trên hồng cầu của mẹ, trong quá trình chuyển dạ vì một lý do nào đó mà hồng cầu của con lọt vào hệ tuần hoàn của mẹ, các kháng nguyên này sẽ kích thích hệ miễn dịch của mẹ tạo ra các kháng thể đặc hiệu chống lại các kháng nguyên có trên hồng cầu của con [15]. Kháng thể được tạo thành là loại IgG, có thể lọt qua được hàng rào nhau thai và được cố định lên hồng cầu của con có các kháng nguyên tương ứng với sự có mặt của bổ thể sẽ gây vỡ hồng cầu của con, chính là cơ chế gây bệnh vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh [44].
Hiện nay nhờ sử dụng liệu pháp anti D (RHOGAM) mà người ta đã phòng được bệnh vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh do bất đồng nhóm máu mẹ con một các hữu hiệu [38], [39]. Khả năng kích thích sinh kháng thể của kháng nguyên Khả năng sinh kháng thể là rất khác nhau giữa các kháng nguyên của các hệ nhóm máu hồng cầu và giữa các kháng nguyên trong cùng một hệ nhóm máu [15]. Một số kháng nguyên nhóm máu có khả năng kích thích cơ thể người bệnh sinh kháng thể mạnh là kháng nguyên D của hệ Rh, kháng nguyên K của hệ Kell. Sự xuất hiện kháng thể bất thường này phụ thuộc vào nhiều yếu tố của người hiến máu và người nhận, trong đó tính sinh miễn dịch của các kháng nguyên có ở người hiến máu là quan trọng nhất [21], [30], [31].