Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sốt xuất huyết, sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sốt xuất huyết và sốt rét trên thế giới Những vụ dịch sốt xuất huyết đầu tiên được ghi nhận xảy ra vào những năm từ 1778 - 1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Sự xuất hiện gần như đồng thời của các vụ dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như vector truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới đã từ hơn 200 năm trước [27].
Tỷ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Bệnh này hiện đã trở thành dịch tại trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh [14].
Nhiều năm qua bệnh sốt rét có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới với khoảng một nửa dân số thế giới nằm trong vùng có nguy cơ mắc bệnh sốt rét, đặc biệt ở những nước có thu nhập thấp như châu Phi. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 300-500 triệu ca sốt rét và ít nhất một triệu người trong số đó tử vong. Ở châu Á, đặc biệt là các nước trong khu vực tiểu vùng sông Mê Kông tính đa dạng sinh học của Anopheles phong phú hơn nhiều so với châu Phi. Có tới 20 loài khác nhau có thể tìm thấy ở các vùng sâu, xa của khu vực này cùng với một số loài thứ yếu.
Có 3 loài véc tơ chính có mặt, vùng rừng núi có An.dirus và An.minimus, vùng biển nước lợ là An.epiroticus (trước đây gọi là An.dirus là loài véc tơ nguy hiểm ở phạm vi toàn cầu nhưng chỉ giới hạn ở sinh cảnh rừng rậm. Sốt rét ảnh hưởng chủ yếu đến những nhóm người có các hoạt động liên quan đến rừng. Trong đó quan trọng là các nhóm dân tộc thiểu số và dân di cư [9]. Tình hình sốt xuất huyết và sốt rét ở Việt Nam Ở Việt Nam, năm 1913 Gaide đã thông báo về bệnh sốt Dengue cổ điển tại miền Bắc và miền Trung.
Năm 1929, Boyé có viết về một vụ dịch sốt Dengue cổ điển (1927) ở miền Nam [10]. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2010 dịch SXH xảy ra trên diện rộng, cả nước ghi nhận 128.831 ca mắc và 109 trường hợp tử vong và dịch bùng phát ở nhiều vùng. Số ca mắc tập trung chủ yếu ở miền Nam 58%, miền Trung 28%, Tây Nguyên 10% và miền Bắc 4%. Đặc biệt là miền Trung với số ca mắ c mới 35.519 tăng 3,1 lần, số tử vong 24/8 tăng 3 lần so với năm 2009.
Năm 2012, số người mắc bệnh SXH ở khu vực phía Nam là 67.158 người, trong đó có 61 người chết, tình hình dịch bệnh năm sau tăng hơn năm trước. Sốt xuất huyết Dengue là bệnh lưu hành quanh năm ở Việt Nam nhưng thường tăng cao từ tháng 6 đến tháng 11. Trong năm 2013, đã ghi nhận khoảng 66.000 trường hợp mắc bệnh SXHD và 42 trường hợp tử vong liên quan đến SXHD [8]. Tại khu vực miền Trung tính đến 11/2015, đã ghi nhận 13.917 trường hợp mắc và 5 trường hợp tử vong.
Số mắc/chết tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng trở vào: Khánh Hòa 5. Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Đông Nam Á thuộc cực Đông của bán đảo Đông Dương. Năm 2001, trong số khoảng 80 triệu dân cả nước lúc bấy giờ có khoảng 40 triệu dân sinh sống trong vùng sốt rét lưu hành [35].Các vùng lưu hành bệnh bao gồm vùng rừng núi phía Bắc, ven dọc Trường sơn, cao nguyên miền Trung, khu vực Đông nam, Tây nam và các miền Duyên Hải. Trước năm 1992, tình hình sốt rét rất nghiêm trọng, hàng nghìn ca chết mỗi năm, tỷ lệ mắc sốt rét tăng và nhanh chóng làm cho sốt rét kháng thuốc.
Tuy nhiên sau hơn 10 năm, chương trình quốc gia phòng chống sốt rét của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, tỷ lệ chết do bệnh sốt rét giảm 96% và tỷ lệ mắc giảm 78%. Năm 2000, số ca mắc sốt rét tại Việt Nam là 293.016 ca trong 7 đó có 148 ca tử vong. Đến năm 2007, số ca sốt rét đã giảm xuống còn 70.910 ca trong đó 20 ca tử vong. Tình hình sốt rét hiện nay tương đối ổn định nhưng vẫn còn là mối đe dọa sức khỏe với người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và dân di cư [3].
Tuy nhiên, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, tình trạng kháng thuốc của ký sinh trùng cũng như kháng hoá chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét đang đặt ra đòi hỏi phải phát triển các nghiên cứu trong tương lai, cung cấp các công cụ mới trong phòng chống sốt rét ở Việt Nam [13]. Tình hình nghiên cứu muỗi Aedes và Anopheles 1. Đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh thái của muỗi Aedes 1. Đặc điểm nhận dạng hình thái ngoài của Aedes Hình thái muỗi Aedes aegypti trưởng thành rất dễ nhận biết, với kích thước trung bình, chân và bụng có các khoang đen trắng rõ rệt.
Thân có nhiều vẩy trắng bạc tập trung thàng từng cụm hay tạo thành đường trên thân muỗi. Vòi không có băng trắng, đỉnh pan trắng. Trên mặt lưng của ngực có 2 đường vẩy trắng bạc phình ra, như hai nữa vòng cung ôm hai bên lưng nên gọi là hình đàn (Harwood và James, 1979; WHO, 1995) [2]. Trên mặt lưng ở gốc các đốt II đến VIII đều có những đường vẩy ngang từng đốt, gốc các đốt bàn chân sau có những khoang trắng, riêng đốt bàn chân thứ V trắng hoàn toàn, nên còn gọi là muỗi vằn.
Mỗi loài đều có những đặc tính sinh học khác nhau, hình thái khác nhau vì vậy việc nhận biết véc tơ là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đưa ra các biện pháp phòng chống và kiểm soát véc tơ đem lại hiệu quả cao hơn. Đặc điểm bọ gậy Aedes aegypti có đốt bụng VIII không có tấm kitin. Các răng lược đốt bụng VIII xếp thành một hàng, có gai giữa và gai bên. Siphon có chiều dài không quá 4 lần chiều rộng, không có gai ở đỉnh.
Chùm lông siphon nằm ngoài khoảng lược siphon. Lông siphon không có dạng gai tù. Mặt lưng của 8 ngực không có lông dạng gai. Tấm yên không có gai ở phía ngoài.
Các lông đầu trên, dưới lông trước anten có ít gai nhỏ. Muỗi Aedes albopictus về hình thái rất giống muỗi Aedes aegypti, chỉ khác trên mặt lưng có một vạch trắng chạy dọc lưng [2]. (Nguồn http://hocvienquany.Trích dẫn ngày 12/3/2109). Hình thái ngoài của muỗi Aedes albopictus, Aedes aegypti 1- Cánh costa không gián đoạn 2- Các đốt bàn chân sau có băng trắng rõ 3- Ngực có hình vòng cung (Aedes aegypti) 4- Ngực có một vạch trắng chạy dọc lưng (Ae.
Chu kỳ phát triển của muỗi Aedes Muỗi Aedes có đặc điểm đẻ trứng trên những diện tích ẩm ướt ngay trên thành hoặc gần sát với mặt nước ở trong những dụng cụ chứa nước tạm thời hoặc những nơi có nước. Trứng muỗi chịu đựng được độ khô trong nhiều tháng và chỉ nở thành bọ gậy muỗi khi bị ngập nước. Ở những vùng có mùa đông với khí hậu lạnh, trứng muỗi có thể tồn tại, sống sót qua thời kỳ này. Trong điều kiện thuận lợi, trứng muỗi sẽ nở thành bọ gậy, sau đó bọ gậy phát triển thành lăng quăng và muỗi trưởng thành [14].
9 ( Nguồn http://impe-qn. Truy cập ngày 23/5/2019) Hình 1. Chu kỳ phát triển của muỗi Aedes Trứng: Trứng muỗi Aedes có kích thước nhỏ (dưới 1mm), hình bầu dục (oval) không đều một mặt phẳng một mặt cong, màu nâu sẫm, một cực nhỏ hơn, ở một cực to của trứng có lỗ trứng được bao bọc bởi một lớp globulin trong suốt. Bên ngoài trứng được phủ bởi màng chrion màu trắng sữa, có thể thấy màng này khi trứng được ngâm trong nước, khi khô màng chrion co sát vào vỏ trứng làm mặt vỏ trứng gồ ghề.
Khác với trứng muỗi Anopheles, Culex v.v… Loài này đẻ trứng rời từng chiếc trên những diện tích ẩm ướt, ngay trên thành hoặc gần sát với mặt nước, trong những dụng cụ chứa nước tạm thời, hoặc những nơi có nước lên xuống. Trứng muỗi Aedes chịu được độ khô trong nhiều tháng và chỉ nở khi bị ngập nước. Bọ gậy: Bọ gậy muỗi Aedes có dạng hình trụ, thon dần về phía đuôi và có màu trắng sữa. Cơ thể chia ra làm ba phần: đầu, ngực và bụng.
Đặc điểm đặc trưng 10 của bọ gậy muỗi Aedes là có một chùm lông nằm ở giữa ống thở. Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của ống thở gọi là chỉ số ống thở (chỉ số si phon) cũng hay được sử dụng để định loại. Quăng: Quăng của muỗi Aedes giống như một dấu hỏi lớn. Bên ngoài quăng được bao bọc một lớp vỏ màu xẫm nhưng có thể nhận thấy mầm của những phần phụ của muỗi trưởng thành sau này.
Cơ thể quăng được chia làm hai phần: đầu ngực và bụng. Muỗi trưởng thành: So với các chi muỗi khác, muỗi Aedes có kích thước trung bình, độ dài của sải cánh vào khoảng từ 4,5 - 5mm. Muỗi Aedes thường có màu đen, điểm nhiều vảy bạc, cho nên được gọi là muỗi vằn. Cơ thể muỗi được chia ra làm ba phần: đầu, ngực và bụng 1.
Đặc điểm sinh thái của muỗi Aedes - Sự phân bố: Ở Việt Nam muỗi Aedes chủ yếu tập trung ở thành phố, rồi đến các đồng bằng ven biển và các làng mạc gần đường giao thông. Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước và các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế phát triển (rác thải bia, đồ hộp….) và việc đô thị hóa nhanh chóng nhưng không đồng bộ (cấp thoát nước chưa đầy đủ, vệ sinh môi trường kém), sự thờ ơ của một số người dân với giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, làm cho vùng phân bố của Ae. aegypti ngày càng mở rộng.
Sự phát tán của Ae. aegypti được thuận lợi do sự chuyên chở trứng (trứng chịu đựng được mùa khô) và bọ gậy trong các thùng chứa nước, tàu bè, túi đựng nước của những người du mục, hành hương và sự chuyên chở muỗi trưởng thành bằng các phương tiện như: xe ô tô, tàu hỏa, máy bay, tàu thủy [15]. - Mùa phát triển: Phát triển quanh năm, nhưng phát triển mạnh vào mùa mưa ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên.