Chương 1 – TỔNG QUAN 1.1 Vi khuẩn lactic 1.1 Giới thiệu chung Vi khuẩn lactic có các đặc điểm chung là các vi khuẩn G+, không sinh bào tử, hình que hoặc hình cầu, catalase âm tính, không có cytochrome, sinh axit lactic như một sản phẩm chính của quá trình lên men cacbonhydrat. Đây là nhóm vi khuẩn lên men bắt buộc, chúng sinh trưởng trong môi trường từ kỵ khí đến vi hiếu khí. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất đặc điểm là chúng thuộc vi khuẩn G+ thì không thay đổi. Catalase và cytochrome có thể được hình thành ở một số LAB khi nuôi cấy ở các điều kiện môi trường nào đó, một số streptococci (Streptococcus bovis) cần nguồn dinh dưỡng giới hạn, khi lên men đường thì tạo ra rất ít axit lactic ở dưới điều kiện môi trường đó [7, 76].
Năm 1780, nhà hóa học người Thụy Điển Scheele lần đầu tiên tách được axit lactic từ sữa bò lên men chua. Nhưng phải mãi đến năm 1857 hiện tượng làm chua sữa mới đươc Pasteur chứng minh là do một nhóm vi sinh vật đặc biệt gọi là vi khuẩn lactic gây ra. Chủng vi khuẩn lactic thuần khiết đầu tiên được đặt tên là Bacterium lactic được J. Lister phân lập năm 1873.
Từ đó đến nay hàng loạt các vi khuẩn lactic đã được phát hiện và nhưng ứng dụng của chúng ngày càng được mở rộng ra nhiều lĩnh vực [7, 76]. Trong tự nhiên, vi khuẩn lactic có mặt ở nhiều nơi: trong phân, rác, xác của động thực vật, trong niêm mạc miệng, niêm mạc ruột của người và gia súc, gia cầm. đặc biệt là sự có mặt một lượng lớn của vi khuẩn lactic trong các sản phẩm lên men chua, trong các môi trường giàu dinh dưỡng như trong các sản phẩm thực phẩm (sữa, thịt, rau quả, đồ uống…). Nói chung các vi khuẩn lactic không sinh sắc tố nhưng khi sinh trưởng trên môi trường có bổ sung máu thì một số loài lại có khả năng tạo nên các sắc tố 4 hemin tương ứng [7, 77].
Vi khuẩn lactic cũng không chứa catalase và cytocrom (trừ một vài loài như Enterococcus feacalis được coi là có hoạt tính pseudocatalase) [77]. Tuy nhiên một vài loài như Lactococcus lactis, Leuconostoc mensenteroides lại có thể khả năng tạo thành các cytocrom khi sinh trưởng trên môi trường chứa máu; ở chúng thậm chí còn có quá trình phosphoryl hóa, oxi hóa của chuỗi hô hấp [7]. Vi khuẩn lactic đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng phức tạp, không một đại diện nào của chúng có thể phát triển trên môi trường muối khoáng thuần khiết chứa glucose và NH4+. Đa số chúng cần hàng loạt các vitamin: lactoflavin, tiamin, axit patotenic, axit nicotinic, axit folic, biotin…và các axit amin trong quá trình sinh trưởng, phát triển [7, 76].
Vì vậy, môi trường nuôi cấy vi khuẩn lactic thường chứa một lượng lớn các chất cung cấp axit amin và vitamin như: cao nấm men, peptone, dịch chiết cà chua… Ngoài ra, để tăng cường khả năng sinh trưởng, phát triển của vi khuẩn lactic, người ta còn phải bổ sung các muối khoáng Mn 2+, Mg2+, Fe3+…, thậm chí bổ sung máu (ở Mỹ, người ta bổ sung 5% máu cừu vào môi trường thạch để nuôi cấy Streptococcus; ở Anh, người ta thường dùng 5% máu ngựa để bổ sung vào môi trường thạch…) Cũng giống như các cơ thể nhân nguyên thủy khác, là một tế bào, vi khuẩn lactic tiếp xúc trực tiếp với môi trường xung quanh không hề có một cơ quan chuyên trách bảo vệ nào, do đó quá trình sinh trưởng, phát triển của chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường bên ngoài. Một biến đổi dù rất nhỏ của điều kiện nuôi cấy hoặc thành phần môi trường cũng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của vi khuẩn lactic, thậm chí có thể gây ức chế hoàn toàn quá trình sinh trưởng, phát triển. Chủng Lactococcus lactis subsp lactis NIZO 22186 đạt mức sinh trưởng cực đại trên môi trường có hàm lượng glucose ban đầu 20g/l, nhưng chỉ cần giảm hàm lượng glucose ban đầu này xuống 10g/l thì ngay lập tức sinh trưởng, phát triển của chúng đã giảm 5 1/3 lần so với trước [34]. Tuy nhiên, khả năng thích ứng với các điều kiện sống khác nhau cũng tùy thuộc vào từng loài, từng chủng.
Nồng độ muối 5% đã đủ để ức chế sinh trưởng, phát triển của hầu hết các vi khuẩn lactic nhưng đối với các chủng chịu mặn được bổ sung vào thức ăn xanh ủ chua thì nồng độ muối 5% lại tăng cường khả năng lên men của chúng [25].2 Sự phát sinh loài [76] Mối quan hệ về sự phát sinh loài của các vi khuẩn G dương được thể hiện thông qua các dữ liệu về oligonucleotid và trình tự rRNA. Vi khuẩn Gram dương được chia theo tỷ lệ % G + C của DNA cao và thấp. Điểm ranh giới phân chia là 50%, tuy nhiên nó có thể là 53 – 55% tùy thuộc vào một số loài có G+ C thấp trong dãy này như Lb. fermentum và Lb.
Hàm lượng G + C cao bao gồm một số chi: Bifidobacterium, Arthrobacter, Micrococcus, Propionibacterium, Microbacterium, Corynebacterium, Actinomyces, and Streptomyces. Hàm lượng G + C thấp bao gồm tất cả các vi khuẩn lactic, cùng với các vi khuẩn lên men hiếu khí hay kỵ khí tùy tiện như Bacillus, Staphylococcus, Listeria và các vi khuẩn kỵ khí như Clostridium, Peptococcus, và Ruminococcus. Mối quan hệ giữa các chi trong LAB và giữa LAB với các chi khác có cùng hàm lượng G+ C thấp đã được M. D Collin và cộng sự đưa ra khi nghiên cứu thông qua hai phương pháp là phiên mã ngược và kỹ thuật PCR.
Hầu hết vi khuẩn lactic ngày nay được định nghĩa một phần dựa trên việc đo khoảng cách phát sinh loài đối với trường hợp của Aerococcus, Carnobacterium, Enterococcus, Lactococcus, Leuconostoc sensu stricto, Oenococcus, Streptococcus sensu stricto, Tetragenococcus, Vagococcus, và Weissella mỗi loại trong các chi này đều đã được tính toán chính xác về đơn vị phát sinh loài. LAB không thực sự phân chia rõ ràng đối với các vi khuẩn Gram dương có hàm lượng G + C thấp khác. Sơ đồ cây phát sinh của vi khuẩn lactic bao gồm một số vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí tùy tiện dựa trên hàm lượng G+C 1.3 Phân loại vi khuẩn lactic Vào năm 1919, Orla-Jensen đã đưa ra một số đặc điểm đặc trưng để phân loại vi khuẩn lcatic. Nhờ các đặc điểm này mà công việc phân loại vi khuẩn lactic được rõ ràng hơn rất nhiều và chúng vẫn còn là một công cụ phân loại hữu ích cho đến ngày nay.
Các đặc điểm để phân loại lactic mà Orla-Jensen đưa ra bao gồm: các đặc điểm hình thái (dạng hình que, cầu hay dạng tetrad), kiểu lên men đường glucose (lên men đồng hình hay lên men dị hình), khả năng sinh trưởng ở các ngưỡng nhiệt độ (100C hay 450 C) và khả năng sử dụng một số các loại đường khác nhau. Dựa trên những đặc điểm phân loại của Orla – Jensen thì LAB được chia thành 4 chi: Lactobacillus, Leuconostoc, Pediococcus, và Streptococcus. Nếu phân loại theo định nghĩa phổ rộng về đặc điểm sinh lý và sinh hoá thì nhóm vi khuẩn lactic bao gồm khoảng 20 chi [76]. Thực tế trong ngành công nghiệp thực phẩm thì các chi 7 được coi là nhóm vi khuẩn lactic chính bao gồm: Aerococcus, Carnobacterium, Enterococcus, Lactobacillus, Lactococcus, Leuconostoc, Oenococcus, Pediococcus, Streptococcus, Tetragenococcus, Vagococcus, và Weissella.
Chi Bifidobacterium thường được coi như vi khuẩn lactic vì nó có mang một số đặc điểm của vi khuẩn lactic. Các chi mới như Alloiococcus, Dilosicoccus, Dilosigranulum, Eremococcus, Facklamia, Globicatella, Helcococcus, Ignavigranum và Lactosphaera bao gồm một số chủng có quan hệ với LAB cả về đặc điểm sinh lý cũng như hệ thống phát sinh loài [76]. Sự phân loại vi khuẩn lactic thành các chi khác nhau phần lớn dựa trên sự khác nhau về hình thái, cơ chế lên men đường, khả năng sinh trưởng ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau, dạng sản phẩm axit lactic, khả năng sinh trưởng ở các nồng độ muối khác nhau và khả năng chịu axit hay kiềm. Đặc điểm hoá học như thành phần axit béo và thành phần cấu tạo thành tế bào cũng được sử dụng để phân loại.
Hơn nữa, các kỹ thuật phân loại ngày nay dựa trên mối quan hệ về phylogenetic, phân loại dựa trên việc xác định trình tự rRNA, mối quan hệ gần gũi ở mức độ loài hay dưới loài có thể được xác định dựa trên các nghiên cứu sự tương đồng DNA-DNA. Để xác định sự phát sinh kiểu gen của loài và chi, thì phương pháp nghiên cứu dựa trên trình tự rRNA là phù hợp hơn cả vì nó có chứa cả các vùng có trình tự bảo thủ và ít bảo thủ. Dựa vào đặc điểm hình thái thì vi khuẩn lactic được chia thành hai loại đó là dạng hình que (gồm có Lactobacillus và Carnobacterium) và hình cầu (tất cả các chi còn lại). Riêng chi Weissella theo định nghĩa thi nó gồm cả hai dạng là hình que và hình cầu.
Trong dạng hình cầu lại có một số chi tồn tại ở dạng tetrad như Aerococcus, Pediococcus, và Tetragenococcus. Dựa theo khả năng lên men đường thì vi khuẩn lactic được chia làm hai nhóm: là nhóm lên men đồng hình (Glycolysis hay là con đường Embden- Meyerhof-Parnas) và nhóm lên men dị hình (con đường 6 phosphogluconate / 8 phosphoketolase) [7, 8, 76]. Hầu hết các LAB sử dụng quá trình đường phân theo con đường Embden-Meyerhof-Parnas. Ngoại trừ leuconostoc, oenococci và weissella và một số dưới nhóm lactobacilli có cơ chế lên men dị hình còn tất cả các LAB khác đều lên men đồng hình [76].
Các vi khuẩn lactic lên men đồng hình phân giải đường theo con đường EMP (Embden-Meyerhof-Parnas path way) và cho ta sản phẩm chủ yếu là axit lactic từ 90 – 98%[5, 88]. Chỉ một phần nhỏ pyruvat được decarboxyl hóa thành axit axetic, etanol, axetoin và CO2. Mức độ tạo thành các sản phẩm này phụ thuộc vào sự có mặt của O2. Đại diện của các vi khuẩn lactic lên men đồng hình như: Lc.
platarum … Các vi khuẩn lactic dị hình do thiếu hai 2 enzym chủ yếu của con đường EMP là aldolase và triozophosphat-isomerase nên giai đoạn đầu của quá trình phân giải glucose xảy ra theo con đường PP (Pentose phosphat). Quá trình chuyển hóa triozophosphat thành axit lactic xảy ra giống như trong lên men đồng hình [7, 76]. Sản phẩm chủ yếu của quá trình lên men lactic dị hình vẫn là axit lactic (40%), ngoài ra, tùy từng loài có thể tạo them các sản phẩm khác như: axit xucinic và rượu etylic khoảng 20%, axit axetic khoảng 10%, các chất khí còn lại chiếm 20%[7]. Đại diện các vi khuẩn lên men dị hình như: Ln.
cremoris và một số vi khuẩn lactic hình que như Lb. Hai con đường chính lên men glucose: (A) lên men lactic đồng hình (glycolysis hay Embden-Meyerhof-Parnas pathway); (B) con đường lên men lactic dị hình (6-phosphogluconate/phosphoketolase pathway). Thứ tự các enzyme được đánh dấu cho phản ứng: 1. fructose-1,6- diphosphate aldolase; 3.
Glyceradehyde-3-phosphate dehydrogenase; 4. glucose-6-phosphate dehydrogenase; 7.