Chương 1: TONG QUAN 1. Lên men bia nông độ cao 1. Định nghĩa Lên men bia nông độ cao là quá trình lên men dịch nha có hàm lượng vật chất khô ban đầu cao hơn thông thường. hàm lượng vật chất khô có thé lên đến 16- 18°Plato hoặc thậm chí cao hon, dẫn đến nồng độ ethanol trong bia non cao.
Sau khi lên men, sản phẩm tạo thành (có nồng độ ethanol cao) sẽ được pha loấng để tạo ra bia thành phẩm có nông độ ethanol như bia được lên men theo phương pháp truyền thống từ dịch nha có hàm lượng vat chất khô (10-12°Plato) khi đó nồng độ ethanol sẽ là 5% (v/v) [29]. Lên men bia nông độ cao đã phát triển đáng ké trong nhiều năm qua do một số lợi ich: tăng sản lượng bia, do đó các thiết bị sản xuất tại nhà máy được sử dụng hiệu quả hơn; giảm chi phí năng lượng, lao động, vệ sinh và chi phí nước thải. Vi dụ, khi lên men dịch nha 15°Plato thì năng lượng tiêu thụ có thể giảm tới 14% và tăng năng suất lao động lên đến 25-30% hoặc công suất có thể tăng 50% đối với dịch nha 18°Plato [29]. Tuy nhiên, lên men bia néng độ cao vẫn còn gặp một số khó khăn liên quan đến quy trình sản xuất như: kéo dài thời gian lên men; gia tăng stress cho nắm men do áp suất thắm thấu và nồng độ ethanol cao.
Ngoài ra, sản xuất bia nồng độ cao còn tồn tại một số điểm hạn chế liên quan đến chất lượng sản phẩm như: giảm độ bên bọt bia; thay đổi mùi vị của bia [40]. Anh hưởng của các yếu tố công nghệ đến quá trình lên men bia nồng độ cao Quá trình lên men bia nồng độ cao bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: hàm lượng vật chất khô ban đầu trong dịch nha, trong đó chủ yếu là đường: thành phần dinh dưỡng trong dich nha; mật độ nam men gieo cấy ban đầu; hàm lượng oxy trong dịch nha ban đầu: nhiệt độ lên men và nông độ ethanol sinh ra trong dịch lên men. Anh hưởng của hàm lượng vật chất khô ban đầu trong dịch nha Trong quá trình lên men bia, đặc biệt lên men bia nồng độ cao, stress áp suất thâm thấu làm cho tế bào co lại và giảm thể tích. Tuy nhiên, thể tích không bào của nam men lại gia tang; ty lệ tê bào sông trong bia non sẽ giảm mạnh.P (1983, 1984, 1985) cho răng quá trình lên men diễn ra chậm han khi gia tăng hàm lượng vật chất khô ban đầu có trong dịch nha cao hơn 18°Plato.
Tuy nhiên, McCaig R. (1996) kết luận rang, quá trình lên men bia diễn ra chậm hăn khi hàm lượng vật chất khô có trong dịch nha gia tăng trên 24°Plato. Nhìn chung, ngưỡng giá trị hàm lượng vật chất khô ban đầu của dịch nha làm cho quá trình lên men diễn ra chậm lại sẽ phụ thuộc vào chủng nắm men sử dụng [4]. Anh hưởng mật độ nam men gieo cấy ban đầu Việc xác định mật độ nam men gieo cây ban đầu phù hợp để tối ưu hóa quy trình lên men bia nông độ cao sử dụng nắm men cô định đã trở thành một vẫn dé cấp thiết.
Đối với nắm men tự do, khi tăng mật độ giống cấy từ 10—10” tb/mL thì mật độ tế bào trong ImL dịch lên men khi kết thúc quá trình lên men chính không có khác biệt nhiều. Bên cạnh đó, khi tăng mật độ giống cây thi hàm lượng các sản phẩm phụ của quá trình lên men cũng giảm, tốc độ lên men tăng, hàm lượng đường sót giảm. Hon nữa, khi tăng mật độ giống cấy từ 10” — 2.10” tb/mL dịch nha thì hàm lượng diacetyl giảm từ 0,45 mg/L xuống còn 0,32 mg/L, các sản phẩm phụ khác như aldehyde, ester cũng giảm [21]. Anh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan trong dịch nha ban đầu Nghiên cứu cua L.
Theo O’Connor-Cox (1993) cũng cho rằng việc cung cấp oxy với nồng độ 25ppm tại giờ lên men thứ 12 sẽ làm tăng hoạt tính lên men, tốc độ sinh tổng hợp ethanol của nam men có sục khí tăng 20% so với không sục khí. Việc sục khí sau khi cay giống làm tăng lượng acid béo tích lũy trong tế bào so với việc chỉ sục khí trước khi cây giống. Tác giả cũng cho rang, môi trường thiếu oxy sẽ làm giảm kha năng sinh trưởng và hoạt động trao đối chất của nam men [22]. Anh hưởng của nhiệt độ lên men Khi lên men dịch nha 15°Plato và 20°Plato, Dragone G.
(2003) thấy rang, nếu gia tăng nhiệt độ lên men từ 10°C lên 15°C thì tốc độ lên men từ 0.21 g/L sẽ gia tăng lần lượt lên 0,56 va 0,37 g/L. Hiện tượng gia tăng tốc độ lên men được giải thích là do sự tăng tôc độ trao đôi chat của nầm men. Kết quả nghiên cứu của Vesely P (2004) cũng cho thấy khi lên men dịch nha 15°Plato và nhiệt độ gia tăng từ 10°C đến 15°C thì mật độ sinh khối nắm men cực đại gia tăng 100%, nông độ diacetyl trong bia non giảm 70%, rượu cao phân tử trong bia non tăng 21%, nồng độ ester hầu như không thay đổi, thời gian lên men được rút ngăn từ 10 ngày xuống còn 6 ngày [4]. Anh hưởng của nông độ ethanol trong dịch lên men Ethanol trong dịch lên men sẽ ảnh hưởng đến hình thái và sinh lý của nam men.
Khi ngâm nắm men trong môi trường ethanol 10% (v/v), Pratt P.L (2003) nhận thấy sự co rút tế bào nắm men trong quá trình ngâm. Sau 96 giờ ngâm trong môi trường ethanol 10% (v/v), thể tích của tế bào nắm men giảm 35-47% và tỷ lệ sống sót của nim men giảm 15-18%. Trong khi đó, Boswell C. Nấm men cô định 1.
Định nghĩa Nắm men cố định là nam men được gan trén chat mang hoặc được nhốt trong chất mang hoặc có vị trí hoạt động giới hạn trong một vùng không gian nhất định của bình lên men nhưng vẫn có khả năng duy trì được hoạt tính trao đổi chất [12]. Trong quá trình lên men bia, việc sử dụng nam men cô định có những thuận lợi như: 6n định hoạt tính lên men của nắm men trong thời gian dai [25], tăng số lần tái sử dụng nam men trong phương pháp lên men chu kỳ [39]; tăng mật độ tế bào trong một đơn vị thể tích dịch lên men, giảm kha năng tap nhiễm của vi sinh vật, tăng năng suất của thiết bị lên men [4]. Chất mang trong kĩ thuật có định tế bao Chất mang cô định nắm men thường là những polymer tự nhiên, polymer tông hợp hoặc các vật liệu vô cơ có trong tự nhiền. — Chất mang vô cơ: chúng có độ bền cơ học và hóa học cao, chi phí thấp va đa dạng về chủng loại.
Chất mang vô cơ thường gặp là hạt thủy tỉnh, ceramic dạng khối tru hay dạng hat, các kissiris khoáng. — Chất mang hữu cơ: chủng có ưu điểm là bền nhiệt và tương đối 6n định về mặt hóa học trong điều kiện lên men. Chất mang hữu cơ cố định nắm men bao gồm các polymer tổng hợp như: gel polyvinylalcohol, polyvinylchloride, màng polyethylene; các chất mang tự nhiên có bản chất polysaccharide như: agar, alginate, chitosan, pectin, carrageenan, dẫn xuất diethylaminoethylen của cellulose (DEAE-cellulose), cellulose đã tách lignin (delignified cellulose), cellulose vi khuẩn (Bacterial cellulose), hạt lúa mì, lúa mach; các miếng trái cây như: táo, lê, nho.; một số loại phế liệu như: bã malt, bã mía, vỏ dưa hấu.và các chất mang có bản chất là protein như: gelatin, viên gluten [6]. Các phương pháp cố định tế bào nam men Dựa vào tương tác giữa tế bào và chất mang, các kĩ thuật cô định tế bào có thể chia làm 4 nhóm chính: — Có định tế bào lên bề mặt chat mang rắn (carier — binding) — Nhốt tế bao trong cau trúc gel (entrapment).
— Kết bông tế bào (aggregation). — Vị bao tế bào (microencapsulation) [14]. (C1) (C3) Nhất tê bào bên trong Tê bao kêt bông Tê bao kêt bông nhân tạo cầu trúc gel tự nhiên (liên kết ngang) (ĐI) (D2) (D3) ot"*e “'® @) ‘3 @® (® (eeeeeneeee oy See *aan® Vi bao té bao bang Vi bao té bao bang Chan tệ bao gitra hai polymer ban thâm mảng mỏng mang membrane QA Chat mang không tan a. Cô định tê bào trên bêmặt CC — ] miên Chất mang xêp b.
Nhétté bào trong câu trúc gel —m“mx. Membre Tác nhân liên kết ngang c. Kêtbôngtê bao ZEBLBLE Lựctnh điện d. Vibaotê bao Hình 1.1: Các phương pháp cố định tế bào [12].
Có định tế bào trên chất mang rắn (carier — binding) Quá trình cô định tế bào trên chất mang ran là sự hấp phụ vật lý thông qua các liên kết ion, tĩnh điện, liên kết đồng hóa trị hoặc liên kết đặc trưng giữa tế bào và chat mang. Chiều dài của lớp tế bào hấp phụ thường rất mỏng vào khoảng 1 mm hoặc hơn và giảm dân trong quá trình lên men. Các chat mang có thê sử dụng là các polysaccharide có nguôn gôc tự nhiên (DEAE-cellulose, 26, mun cua, dextran.), polysaccharide tong hop (cac dan xuat của polystyrene, polyurethane.) hay các hợp chất vô cơ (ceramic, thủy tinh xốp, silicate. Các chất mang này có thé được sử dụng ngay hoặc xử lý với hóa chất nhằm làm tăng khả năng hap phụ của chúng [12].
Nhốt tế bào trong cau trúc gel Kỹ thuật nhốt tế bào trong cau trúc gel là quá trình bao bọc té bào vào trong cau trúc gel nhăm ngăn cản tế bào khuếch tán ra môi trường xung quanh nhưng vẫn cho phép tế bào trao đôi chat với môi trường xung quanh. Các loại chất mang thường sử dụng trong kỹ thuật này chủ yếu là các chất mang có nguồn gốc hữu cơ như: polysaccharide (alginate, K-carrageenan, agar, chitosan, pectin.), protein (gelatin, collagen.) hay polymer tong hợp (polyacrylamide. Hình dang của chat mang thường là các hat gel hình cầu có đường kính khác nhau như: hạt carrageenan có đường kính 0,08 — 0,10 mm, hạt alginate 0,1 — 0,15 mm [12]. Kết bông tế bào (aggregation) Nắm men là loài vi sinh vật có thuộc tính tự nhiên là tự kết cụm các tế bào với nhau thành một khối (kết bông).
Sự kết bông ở nam men là một thuộc tính có tầm quan trọng lớn đối với ngành công nghiệp sản xuất bia vì nó ảnh hưởng đến năng suất quá trình lên men và chất lượng bia [16]. Tuy nhiên phương pháp này ít được ứng dụng thực tế vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng: điều kiện dinh dưỡng của nắm men, hàm lượng oxy hòa tan, pH, nhiệt độ lên men, điều kiện xử lý và bảo quản nắm men [37]. Vi bao tế bào Kỹ thuật vi bao tế bào gồm các dạng: — Sử dụng bao vi thé (microencapsulte type): tế bào được nhốt trong các bao vi thé bang các polymer bán thấm.