Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Một số vấn đề về canh tác nương rẫy Canh tác nương rẫy đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ việc phân tích kiến thức cổ truyền của người địa phương đến những ảnh hưởng trực tiếp của canh tác nương rẫy đối với môi trường. Katherine Warner đã tổng kết một số vấn đề du canh tại vùng nhiệt đới thuộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh trong cuốn sách "Một số vấn đề du canh liên quan đến kiến thức kỹ thuật địa phương và quản lý tài nguyên tại vùng nhiệt đới ẩm thuộc Á- Phi- Mỹ la tinh" (Katherine Warner, FAO, Rome, 1991)[23].
Theo tác giả, du canh thể hiện phản ứng của con người khi gặp khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống nông nghiệp sinh thái ở trong rừng nhiệt đới. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới có đặc trưng chung là đất dễ bị thoái hoá nhưng đa dạng hệ động và thực vật cực kỳ phong phú, cung cấp ít dinh dưỡng nhưng lại có hàng loạt các loài cây có khả năng cạnh tranh đối với cây lương thực, thực phẩm. Qua cách phát đốt thảm thực vật rừng người dân du canh đã tìm cách loại trừ các loài cây cạnh tranh, tập trung chất dinh dưỡng để thâm canh các loài cây lương thực. Đó là một tác động tích cực vào rừng để đạt tới quá trình diễn thế mới có ích cho người dân.
Tuy nhiên, đối với người nông dân du canh tổng hợp, đó chỉ là sự can thiệp tạm thời vào hệ sinh thái rừng. Diễn thế bắt đầu tái diễn, trong nhiều trường hợp các phương thức du canh lại tích cực góp sức vào quá trình tái tạo của rừng. Dạng du canh tổng hợp không phá rừng mãi mãi, nó thay thế rừng bằng một loạt diễn thế cây tái sinh mà đối với người du canh lại sinh lợi nhiều hơn là rừng tự nhiên ban đầu (FAO, 1978) (dẫn theo Katherine Warner, 1991 [23]). n 4 Ảnh hưởng của canh tác nương rẫy đến môi trường được nhiều tác giả quan tâm.
Naprakabob et al. (1975) nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác nương rẫy đối với chế độ thuỷ văn, lưu vực nước, xói mòn và độ phì của đất tuỳ thuộc từng nơi, cường độ canh tác trên nương rẫy, kỹ thuật canh tác và loại hoa mầu canh tác. Saplaco (1981) đã nghiên cứu lượng xói mòn đất do canh tác nương rẫy ở vùng núi Makiling, Philippin. Tác giả đã phát hiện các rẫy mới làm có mức độ xói mòn cao nhất, đất đồng cỏ có lượng đất mất ít nhất.
Brunig và cộng sự (1975) đã chứng minh canh tác nương rẫy ở Sabah, Malaysia trong thời gian canh tác đã gây ra mức độ xói mòn từ 0,5 đến 2 mm đất (10 đến 40 tấn/ha) trên đất rừng tự nhiên (Dẫn theo Nguyễn Văn Sở [19]). Quan niệm về phục hồi rừng trên thế giới Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất hiện nay của ngành lâm nghiệp Việt Nam cũng như của các nước nhiệt đới khi mà độ che phủ của rừng giảm xuống dưới mức an toàn sinh thái và không bảo đảm được sự phát triển bền vững của đất nước. Theo nghĩa thông thường thì đây là công việc tái lập lại rừng trên những diện tích đã bị mất rừng. Nhưng về phương diện sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một hệ sinh vật quần thể mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu.
Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán [9]. Tuỳ theo mức độ tác động của con người mà người ta phân chia 3 giải pháp phục hồi rừng đó là: phục hồi tự nhiên, phục hồi bán tự nhiên (xúc tiến tái sinh) và phục hồi nhân tạo (trồng rừng) [8]. Khoanh nuôi phục hồi rừng là một thuật ngữ được các nhà khoa học đưa ra để chỉ giải pháp phục hồi rừng bằng con đường tự nhiên. Trong đó khoanh nuôi có tác động là giải pháp phục hồi rừng bán tự nhiên và khoanh nuôi không có tác động là giải pháp phục hồi tự nhiên.
Thành tựu nghiên cứu phục hồi rừng nghèo Về tái sinh và phục hồi rừng Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới tái sinh, phục hồi rừng tự nhiên và chia chúng ra thành hai nhóm: * Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng không có sự can thiệp của con người (Baur G. S,1981) * Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng có sự can thiệp của con người. Các nhà lâm học như: Gorxenhin (1972, 1976); Bêlốp (1982) đã xây dựng thành công nhiều phương thức tái sinh và phục hồi rừng nghèo kiệt; đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của Maslacop E.L (1981) về "Phục hồi rừng trên các khu khai thác", Mêlêkhốp I.C (1966) về "Ảnh hưởng của cháy rừng tới quá trình phục hồi rừng", Pabedinxkion (1966) về "Phương pháp nghiên cứu quá trình phục hồi rừng". Myiawaki (1933), Yu cùng các cộng sự (1994), Goosem và Tucker (1995), Sun và cộng sự (1995), Kooyman (1996) cũng đã đưa ra nhiều hướng tiếp cận nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng đã bị tác động ở vùng nhiệt đới.
Kết quả ban đầu của những nghiên cứu này đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc và làm tăng mức độ đa dạng về loài. Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp dụng trên quy mô rộng, bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác trong quá trình thực hiện. Về phân loại rừng nghèo Hiện nay có hai quan điểm về phân loại rừng nghèo được nhất trí cao trong giới khoa học quốc tế: * Dựa vào đặc điểm hiện trạng thảm thực vật che phủ. Điển hình cho quan điểm này là E.
Tác giả phân chia hệ sinh thái rừng bị suy thoái thành 5 loại chính và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi chúng đó là các lâm phần rừng hỗn loài tự nhiên bị khai thác quá mức, các n 6 lâm phần rừng thứ sinh ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Các đám cây gỗ thứ sinh, trảng cỏ và các dạng thảm thực vật khác trên các loại hình thổ nhưỡng khác nhau * Dựa vào đặc điểm của sự tác động: Quan điểm này được thể hiện rõ trong hướng dẫn phục hồi rừng của Tổ chức cây gỗ rừng nhiệt đới quốc tế (ITTO,2002), theo đó rừng nghèo được phân chi thành 3 kiểu phụ là: Rừng nguyên sinh bị suy thoái (Degraded primary forest); Rừng thứ sinh (Secondary forest); đất rừng bị thoái hóa (Degraded forest land). Về phân loại đối tượng rừng để tác động Phân loại đối tượng rừng thứ sinh làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phục hồi và phát triển rừng là việc làm có ý nghĩa thiết thực. Theo IUCN (2001), Dư Thân Hiểu (2001), để phân chia loại hình kinh doanh rừng thứ sinh, trước tiên cần xem xét đến loài cây ưu thế hoặc một số loài cây mục đích chủ yếu và tình hình điều kiện lập địa, sau đó quy nạp chúng vào những biện pháp kinh doanh tương ứng.
Về phương thức lâm sinh áp dụng cho rừng thứ sinh nghèo Cho đến nay, các phương thức lâm sinh (PTLS) cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có hai dạng chính: (a)- Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách lợi dụng lớp thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên để thực hiện tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, hoặc trồng bổ sung. Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng đám, phương thức cải thiện quần thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh. n 7 Về trình tự xử lý, các phương thức lâm sinh còn có thể được chia ra: (i)- các PTLS lấy cải thiện làm mục tiêu trước mắt, như phương thức đồng nhất hoá tầng trên. (ii)- các PTLS nhằm tạo lập tái sinh làm mục tiêu chủ yếu, còn cải thiện chỉ là một phần của biện pháp tái sinh, như phương thức rừng đồng tuổi (MUS), phương thức chặt dần nhiệt đới ở Nijêria và Trinidat.
(iii)- các PTLS nhằm đạt cả hai mục tiêu song song, tức là vừa cải thiện, vừa thúc đẩy tái sinh ở nơi cần thiết, mà dạng tổng quát của nó có liên hệ với hình thức của phương thức khai thác chọn. Về khía cạnh kinh tế - xã hội của phục hồi rừng thứ sinh nghèo Các nghiên cứu đều khẳng định hiện tượng mất rừng tập trung chủ yếu tại các nước đang phát triển vùng nhiệt đới. Bên cạnh các lý do khách quan như chiến tranh, núi lửa.; mất rừng có liên quan mật thiết với tỷ lệ tăng trưởng dân số. Dân số đông, đói nghèo và sự lạc hậu đã làm cho nhiều người dân chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt của việc tàn phá tài nguyên rừng mà không hề có sự suy tính để gìn giữ cho các thế hệ tương lai; Trong khi đó các thể chế, chính sách của các nước này lại không đủ sức để hạn chế, vận động hay hướng mọi người đến các hoạt động gìn giữ tài nguyên rừng.
Hàng loạt những khu rừng nguyên sinh, thứ sinh vẫn đang tiếp tục bị tàn phá, thay thế vào đó là những diện tích đất trống hay những khu rừng thứ sinh nghèo kiệt đến mức tưởng chừng khó có thể phục hồi. Điển hình cho hướng nghiên cứu về khía cạnh kinh tế - xã hội của phục hồi rừng thứ sinh nghèo là Lamb, Tomlinson (1994); Banerjee (1996); Ramakrishnan và cộng sự (1994); Chokkalingamand Ravindranath (2001); David lamb và Dongilmour (2003); (IUCN, WWF (2003). Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh rừng P.W Richards (1952) [22] đưa ra nhận xét rằng ở rừng nhiệt đới sự phân bố số lượng cây trong các tầng rừng có kích thước rất khác nhau. Phần n 8 lớn các loài cây ưu thế ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít, thậm chí vắng mặt ở những tầng thấp hay cấp kính nhỏ.
Ngược lại, ở những rừng đơn ưu như rừng Mora gongifi ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon ở Borneo. lại có đại diện đầy đủ các kích thước. Theo tác giả, sự phân bố này do đặc tính di truyền của các loài cây được thể hiện ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các thời gian phát triển.