MỞ ĐẦU Sâu răng là bệnh rất phổ biến trên thế giới, ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội. Bệnh sâu răng có tỷ lệ mắc cao trong cộng đồng, việc điều trị sâu răng tốn kém cho cá nhân và xã hội cả về kinh phí cũng như thời gian. Bệnh sâu răng được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Bệnh sâu răng từng được xem là một trong ba mối nguy hại cho sức khỏe con người sau bệnh tim mạch và ung thư, chính vì thế cho đến nay, bệnh sâu săng vẫn là nỗi lo mà bất cứ ai cũng không thể xem thường.
Theo số liệu điều tra của Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương năm 2003, khoảng 90% dân số Việt Nam mắc các bệnh về răng, miệng, trong đó phổ biến nhất là sâu răng và viêm quanh răng. Nguyên nhân chính gây bệnh sâu răng là do các vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn nhóm Streptococci có mặt trong mảng bám răng sinh axit gây ăn mòn men răng. Cách tốt nhất để phòng chống bệnh sâu răng là vệ sinh răng miệng thường xuyên và đúng cách cùng với hạn chế các đồ ăn có nhiều đường. Các sản phẩm bảo vệ răng miệng sử dụng thường được bổ sung các chất kháng khuẩn như fluor, axit yếu, peroxit hydro, muối kim loại.
Tuy nhiên, việc sử dụng lâu dài các chất kháng khuẩn như fluor, axit yếu… đều mang lại những hậu quả không mong muốn. Hiện nay, việc tìm kiếm các hợp chất mới có tác dụng bảo vệ răng, đặc biệt là những hợp chất từ thiên nhiên đang thu hút được sự quan tâm của cả các nhà khoa học và các doanh nghiệp. Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài có chứa các hợp chất có hoạt tính cao, đã được sử dụng trong việc chữa bệnh. Ở Việt Nam, việc tìm kiếm các hợp chất từ thiên nhiên đã được chú ý, tuy nhiên chưa mang lại hiệu quả như mong đợi, nhiều nghiên cứu được ứng dụng thực tiễn còn hạn chế.
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu quả phòng chống các bệnh về răng, đặc biệt là sâu răng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn sâu răng của một số loài thực vật”. Luận văn thạc sĩ 8 z Nguyễn Thị Thúy Anh K18 Sinh học thực nghiệm CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀ I LIỆU 1. Bệnh sâu răng và cơ chế gây bệnh sâu răng 1. Cấu tạo răng và bệnh sâu răng 1.
Cấu tạo răng Trong quá trình phát triển, mỗi một người đều có hai bộ răng: bộ răng sữa và bộ răng vĩnh viễn. Mỗi bộ răng có hai hàm, hàm trên và hàm dưới. Răng bao gồm 3 phần chính là: thân răng, cổ răng và chân răng. Từ ngoài vào trong răng được cấu tạo bởi các thành phần: men, ngà, tủy răng [65].
Men răng: Là lớp ngoài cùng có độ dầy mỏng tùy theo mặt răng. Men răng không có màu và trong suốt, nên màu răng là màu của ngà. Men răng không có dây thần kinh cảm giác nên men răng không biết đau.Tế bào men răng có hình lăng trụ sắp xếp theo chiều hướng tâm. Do đó men răng rất cứng và chịu lực theo chiều đứng của răng, nhưng men răng lại có khuyết điểm là dễ bị rạn nứt, dễ bị tách ra theo chiều dọc.
Ngà răng: Tế bào ngà răng có độ cứng không bằng men, nên ngà răng rất dễ bị axít phá huỷ nếu men răng bên trên bị hỏng thì ngà răng sẽ dễ bị sụp đổ nhanh chóng. Do cấu tạo bên trong, giữa các tế bào ngà có những ống nhỏ chứa dây thần kinh và mạch máu nên ngà răng có cảm giác đau khi sâu răng tiến vào sâu trong lớp ngà. Ngà răng cảm giác với nóng lạnh, chất chua ngọt, và hơi gió lạnh. Cũng như men răng, ngà răng một khi đã bị sâu, mất chất bị bể, mẻ sẽ không tự tái tạo lại được.
Tủy răng: Gồm buồng tủy và ống tủy chân răng. Buồng tủy là trung tâm của răng, chứa mạch máu và dây thần kinh để nuôi răng. Mạch máu dẫn từ trong xương và đi vào răng từ dưới gốc răng. Khi lỗ sâu đi vào tới buồng tủy sẽ gây nhiễm trùng tủy và làm viêm tủy.
Lúc đó răng sẽ đau nhức dữ dội và nếu không được chữa tủy kịp thời, nhiễm trùng sẽ lan xuống gốc răng gây áp xe răng, viêm mô tế bào và viêm khớp răng. Luận văn thạc sĩ 9 z Nguyễn Thị Thúy Anh K18 Sinh học thực nghiệm Hình 1. Cấu tạo giải phẫu của răng [7] Buồng tuỷ răng gồm mạch máu, các sợi thần kinh tạo thành tuỷ răng thông với bó mạch thần kinh hàm trên hoặc hàm dưới qua lỗ chóp ở vùng chân răng. Tuỷ răng thường được chia thành 2 phần là tuỷ thân nằm trong thân răng và tuỷ chân nằm trong chân răng.
Tuỷ răng bình thường vô trùng và được che bọc bảo vệ bởi men răng và ngà răng [7, 5, 53]. Khi lỗ sâu hình thành trên bề mặt men răng, làm thủng lớp men, lỗ thủng tiếp tục qua ngà răng đến buồng tuỷ sẽ tạo thành một đường dẫn vi khuẩn từ môi trường miệng tấn công vào tuỷ răng, gây đau nhức, bệnh nhân nếu không được điều trị sẽ trải qua các cảm giác của viêm tuỷ cấp, viêm tuỷ mạn tính và viêm tuỷ hoại tử. Có thể xuất hiện các nang ở chân răng, nguy hiểm nhất là khi nang này phát triển sang ngang các chân răng bên cạnh gây chèn ép và làm chết tuỷ các răng lân cận [5, 30]. Bệnh sâu răng Sâu răng là một trong số những bệnh rất phổ biến nhất của loài người.
Bệnh sâu răng là hiện tượng tổn thương, tiêu huỷ tổ chức cứng của răng (bao gồm men răng và ngà răng), tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng. Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng [4, 53]. Luận văn thạc sĩ 10 z Nguyễn Thị Thúy Anh K18 Sinh học thực nghiệm Sâu răng là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi (từ những trẻ răng sữa đến người già). Ngoài việc gây đau nhức và những biến chứng viêm tủy, viêm quanh chân răng, sâu răng còn gây ra những trở ngại về giao tiếp như hơi thở hôi, ngả màu men răng.
Sâu răng còn tạo lỗ chứa thức ăn, vi khuẩn. Đây là nguồn gieo rắc vi khuẩn gây viêm đường hô hấp trên, mũi, xoang đường hô hấp dưới như họng, khí phế quản.Sâu răng còn là nguồn gốc gây hôi miệng do lỗ sâu chứa thức ăn, vi khuẩn sinh dưỡng và lên men nguồn thức ăn này, giải phóng ra các sản phẩm phân huỷ thức ăn như khí H2S có mùi hôi [30]. Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới: Khoảng 90% trẻ em tuổi đến trường và hầu hết người trưởng thành đều có thể mắc bệnh sâu răng. Tỉ lệ bệnh cao nhất là ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh và tỉ lệ thấp hơn ở Châu Phi.
Ở Mỹ sâu răng là bệnh mãn tính phổ biến nhất ở trẻ em, gấp khoảng 5 lần so với tỉ lệ bị bệnh hen. Tổ chức y tế thế giới WHO cũng coi sâu răng là một trong ba mối lo ngại lớn nhất đến sức khỏe của con người, sau bệnh ung thư và tim [30]. Tỷ lệ sâu răng đặc biệt cao ở Ấn Độ, nơi mà nhận thức về việc chăm sóc răng miệng ở người dân còn hạn chế. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy 66,2% dân số sinh sống tại các đô thị và 47,8% dân số ở nông thôn bị ảnh hưởng bởi sâu răng và 88% trẻ em trong nhóm tuổi 6-11 mắc các vấn đề về răng miệng [24].
Tình hình sâu răng ở Việt Nam Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 85% trẻ em Việt Nam bị sâu răng và ở người lớn, trung bình mỗi người có tới 8 răng bị sâu (năm 2008). Do việc sử dụng đường tăng cao và việc vệ sinh răng miệng còn hạn chế, con số trên có nguy cơ tăng cao ở Việt Nam trong những năm sắp tới. Điều tra về tình hình sức khỏe răng miệng toàn quốc của Viện Răng Hàm Mặt (được thực hiện năm 1999-2001) cho thấy tình trạng sâu răng sữa trẻ em Việt Nam ở mức độ nghiêm trọng cả về tỉ Luận văn thạc sĩ 11 z Nguyễn Thị Thúy Anh K18 Sinh học thực nghiệm lệ mắc và mức độ ở từng người, có gần 85% trẻ ở lứa tuổi từ 6-8 bị sâu răng sữa. Báo cáo mới đây của các chuyên gia tại Hội thảo khoa học về răng hàm mặt cho thấy tình trạng trẻ em Việt Nam bị sâu răng thuộc loại cao nhất thế giới (theo điều tra của Liên đoàn Nha khoa quốc tế) và đang ở mức báo động đỏ [4,22].
Tại hội thảo về chăm sóc răng miệng do Bệnh viện Răng Hàm Mặt TPHCM tổ chức năm 2010, cho biết hiện nay, tỉ lệ sâu răng vĩnh viễn ở nước ta khá cao, khảo sát đã chia tình trạng sâu răng theo từng độ tuổi. Cụ thể là lứa tuổi từ 6-8 có hơn 25% trẻ bị sâu răng, nhóm tuổi từ 9-11 có đến gần 55% trẻ bị sâu răng và mức độ sâu răng cũng nhiều hơn so với nhóm trẻ 6-8 tuổi. Tình trạng sâu răng tăng dần theo lứa tuổi, cả về số người mắc lẫn mức độ nặng. Từ 18-34 tuổi có hơn 75% người bị sâu răng vĩnh viễn và gần 90% người trên 45 tuổi đối mặt với tình trạng này.
Phân bổ theo vùng địa lý thì vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỉ lệ cao nhất: 93,7%. Đối với người trưởng thành, tỉ lệ có bệnh quanh răng rất cao, từ 93,3% đến 98,3%. Cơ chế gây bệnh sâu răng Sâu răng gây ra bởi các loại vi khuẩn sản sinh axit điển hình là Lactobacillius và Streptococcus mutans. Chúng chuyển hoá các carbonhydrat có thể lên men như đường sucrose, đường fructose và đường glucose thành axit lactic.
Kết quả là làm tăng lượng axit lactic và giảm độ pH trong miệng, những chất đó có thể hòa tan chất hữu cơ, phân hủy chất vô cơ của kết cấu răng, chúng còn sản sinh và tiết ra chất hữu cơ, enzym thủy phân protein (một thành phần trong nước miếng) tạo thuận lợi cho sự lưu đọng của thức ăn trên bề mặt răng, gây nên bệnh sâu răng [34,41,48]. Có ba yếu tố quan trọng gây ra bệnh sâu răng là vi khuẩn, đường (trong thức ăn) và thời gian đường cùng vi khuẩn tồn tại trong khoang miệng. Vi khuẩn gây bệnh sâu răng tồn tại và bám trên bề mặt răng nhờ lớp mảng bám răng.