Đặt vấn đề Xoài Cat Hòa Lộc thuộc chi Mangifera indica L., họ Đào lộn hột, là loại trai cây có vị ngọt thanh, mùi thơm ngảo ngạt đặc trưng. Theo cục nông nghiệp Hoa Ky, trong xoài có chứa nhiều loại vitamin như vitamin C, E, A, K, Bó,.các khoáng chất phospho, kali, kém,.va các chất xơ mang lại rất nhiều lợi ít cho cơ thể. Chính vì những yếu tổ trên mà năm gần đây giống xoài này đang rất được mọi người trên thế giới chào đón và là giống xoài được xuất khẩu nhiều nhất trong các loại xoài ở nước ta. Việt Nam là một nước nông nghiệp hội tụ nhiều lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu thích hop dé trồng xoài.
Theo tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến tháng 6 năm 2022 thì sản lượng xoài đạt 590,6 nghìn tan, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, thực tế số lượng xoài tươi ở Việt Nam được xuất khâu ra nước ngoài có tăng nhưng lại không cao và gặp nhiều hạn chế và nguyên nhân chủ yếu là do giai đoạn bảo quan trái xoài, trái xoài sau khi thu hoạch sẽ có sự thay đôi đột ngột về hô hấp và sự thay đôi về sinh lý, sinh hóa trong quá trình chín, giảm dần các hợp chất resorcinol (Kobiler và cộng sự, 1998), hợp chất này suy giảm chính là lý do dé một số loài nắm đã tồn tại trên trái xoài trước đó phục hoạt và phát triển, gây ra các triệu chứng trên trái rõ rệt, làm giảm chất lượng dinh dưỡng cũng như giá trị thương phẩm của trái xoài, trong đó bệnh than thư do nam Colletotrichum gloeosporioides gây ra chính là bệnh phô bién và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất. Triệu chứng ban đầu của bệnh đó là trên vỏ xoài xuất hiện các đốm nâu đen nhỏ, nếu không phát hiện kịp thời thì các đốm nhỏ phát triển dần, có thể liên kết với nhau, lan rộng trên bề mặt vỏ xoài, gây thối quả. Dé lam giam tan suất xuất hiện bệnh thán thư trên trái xoài sau khi thu hoạch, người ta đã sử dụng các biện pháp xông hơi nước nóng, xông khí SOa, chiếu xa.
dé điệt các vi sinh vật gây bệnh nói chung và nam Colletotrichum gloeosporioides nói riêng. Tuy nhiên, các biện pháp này rất khó kiểm soát thời gian thực hiện do từng vùng khác nhau thì trái xoài sẽ có sự phát triển riêng nếu tác động của nhiệt độ. các tia cực bức xạ giống nhau có thé làm cho các chất dinh dưỡng trong quả xoài bị giảm hay biến tính, quả xoài không còn giữ được nguyện vẹn hương vị ban đầu hoặc không thể kiểm soát được trái xoài khỏi nắm Colletotrichum gloeosporioides gây bệnh. Trước các van đề trên cần đưa ra giải pháp dé bảo quản xoài tránh sự gây hại của nam Colletotrichum gloeosporioides vừa phải đảm bảo giữ nguyên hàm lượng dinh dưỡng trong xoài cũng như hương vị nguyên ban của quả.
Đề tài: “Phan lập và đánh giá kha năng đối kháng với nam Colletotrichum gloeosporioides của nam men có trong vỏ xoài Cát Hòa Lộc sau thu hoạch” được đề xuất và thực hiện. Việc sử dụng thành phần nam men có sẵn trên vỏ quả xoài dé ức chế sự phát triển của nam Colletotrichum gloeosporioides gay bệnh than thư trên xoài sau thu hoạch sẽ là một giải pháp mới gop phần trong việc bảo quản trái xoài sau thu hoạch. Mục tiêu đề tài Xác định thành phần nắm men có trong vỏ xoài Cát Hòa Lộc và có khả năng đối kháng với nam Colletotrichum gloeosporioides. Nội dung đề tài Phân lập và định danh nam Colletotrichum gloeosporioides dựa vào đặc điềm hình thái.
Phân lập và định danh các dòng nam men dựa vào đặc điểm hình thái và các phản ứng sinh hóa. Thực hiện đối kháng giữa các dòng nam men thu được với nắm Colletotrichum gloeosporioides trong điều kiện phòng thí nghiệm. Chọn lọc được các dòng nam men có khả năng đối kháng mạnh nhất của từng nhóm dé tiến hành định danh bang kỹ thuật sinh học phân tử. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu chung về nắm men Nam men là những vi nam có cau tạo đơn bào hay các tập hợp đơn bào, là nam sinh sản vô tính bằng phương thức nảy chéi hay phân hạch. Nam men phát triển nhanh, trong tế bảo nấm men chứa nhiều vitamin, acid amin không thay thé và hàm lượng protein cao. Nắm men không tạo thành một nhóm phân loại duy nhất, tuy nhiên có thé phân biệt nấm men thông qua ngành: nganh Ascomycota và ngành Basidiomycota (Lương Đức Phẩm, 2009). Hiện nay đã có hơn 1000 loài nắm men đã được nghiên cứu và mô tả.
Nam men sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng, là các vi sinh vật hiếu khí bắt buộc hoặc là các vi sinh vật ky khí. Hiện nay người ta vẫn chưa thấy nam men nao thuộc loại ky khí bắt buộc. Khi thiếu oxy, các loài nam men chuyền hóa các carbohydrate thành carbon dioxide và ethanol hoặc acid lactic đề tạo ra năng lượng duy trì sự sống của cơ thé. Da số các loài nam men đều có khả năng sử dụng nguồn các nguồn carbon từ đường monosaccarit và disaccarit, chỉ một số ít nắm men có thé chuyển hóa đường polysaccarit dé lay nguồn carbon nuôi cơ thể, đồng thời sinh ra khí CO2.
Nam men trao đổi chất thông qua quá trình lên men (nam men ky khí) hay qua quá trình hô hap (nam men hiểu khí). Những loài nam men hiếu khí có khả năng sinh sinh khối và nồng độ enzyme nhiều hơn những loài nắm men ky khí, nắm men ky khí khó hình thành bào tử hơn nam men hiểu khí ( Lưu Chí Thắng, 2020). Nắm men tổn tại trong môi trường tự nhiên như mô thực vật, trái cây, ngũ cốc, lá, phân, đắt, dịch tiết của thực vật, các chủng nấm men có trên bề mặt trái cây có thê lên men nhiều loại đường thành rượu và có thể chịu được nồng độ cồn cao ( Tika B. Kark và cộng sự, 2017).
Theo Nguyễn Lân Dũng (2010) nam men sinh san chủ yêu bằng hai hình thức đó là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Sinh sản vô tính: hình thức nảy chồi là hình thức sinh sản vô tính phổ biến của nam men, khi nam men trưởng thành sẽ hình thành một chuỗi nhỏ và phát triển dần, một phan nhân của tế bào mẹ được chuyền sang chéi, tách ra thành một nhân mới sau đó chổi hình thành vách ngăn sau đó chồi tach ra khỏi tế bào mẹ và trở thành một tế bào mới, tuy nhiên có một số dòng nắm men tế bào mới hình thành không tách ra khỏi tế 3 bảo mẹ mà tiếp tục dính trên tê bao mẹ và hình thành tế bao mới, chéi có thé moc theo một hướng nhất định (nảy chồi một hướng) hay nảy chéi theo nhiều hướng. Một số it dòng nam men sinh san bằng cách phân chia tế bao như vi khuan, tế bào dài ra sau đó sinh ra những vách ngăn đặc biệt và phân chia thành hai hay nhiều tế bào mới. Điển hình cho hình thức sinh sản nay là các nắm men thuộc chi Schizosaccharomyces. Sinh sản hữu tính: khi trong điều kiện dinh dưỡng kém tế bào nấm men có thé sinh sản bằng túi hay nang bảo tử, trong mỗi túi có chứa một hoặc nhiều bảo tử.
Túi bào tử được sinh ra do sự tiếp hợp của hai tế bào nắm men. Khi hai tế bào khác giới đứng gần nhau, ở mỗi đầu của hai tế bao sẽ mọc ra mấu lỗi và tiến sát vào nhau, hai tế bao sẽ tiếp hợp với nhau và hình thành hợp tử, sau đó sẽ có quá trình phối nguyên sinh chất và phối nhân tạo thành bao tử. Bào tử gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển thành một tế bào nắm men mới. Chi Saccharomyces và chi Hanseniaspora là hai ví dụ điền hình của trường hợp này.
Đặc điểm hình thái Nắm men có sự đa dạng về hình thái như hình cầu, hình oval, hình elip, hình bầu dục hoặc có thể là hình dài. Một số loài nắm men khi sinh sản bằng hình thức nảy chồi thì chỗi con không tách ra khỏi tế bao mẹ và tiếp tục phát triển rồi tiếp tục hình thành chéi mới, bằng cách này mà hình thành một chuỗi các tế bảo, gitra các tế bào có thắc eo được gọi là sợi nam giả, bên cạnh đó cũng có một số loài nấm men có khả năng hình thành sợi nắm thật và có vách chéo. So với vi khuan thì tế bào nắm men có kích thước khá lớn, thường to gấp 10 lần vi khuẩn, đường kính nắm men khoảng 7 um, chiều dai từ 5 — 10 pm, chiều rộng từ 3 — 5 um. Tuy nhiên, nam men có thé thay đổi về hình thái và kích thước tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển hay điều kiện môi trường xung quanh (Lương Đức Phẩm, 2009).
Câu tạo của nầm men Hình 2. Cấu tạo tế bao nắm men. Tế bao nam men có thành phan và cấu tao khá phức tạp, nhưng nhìn chung thì nắm men được cấu tạo chủ yếu bởi các thành phan sau: Thành tế bào: thành tế bào là phức chất protein — polysaccharide, phosphate và lipid tạo thành lớp màng đàn hồi và mang điện, thành tế bao dày khoảng 25 wm, chiếm 25% khói lượng tế bao. Thanh tế bào giúp bảo vệ tế bào trước các tác động bên ngoài cũng như chất độc, bên cạnh đó thành tế bào còn có tác dụng giữ áp suất thâm thấu nội bào và điều chỉnh các chất dinh dưỡng đi qua các lỗ nhỏ vào bên trong tế bào.
Màng tế bào chất: cấu tạo chủ yếu là protein, bao quanh tế bảo chất, là một lớp màng rất mỏng, dày không quá 0,1 nm, có tác dụng như rào chắn thâm thấu, điều hòa vận chuyển các chất dinh dưỡng ra vào tế bào, là nơi khu trú của một số enzyme. Chất tế bào: ở dạng keo, được cấu tạo chủ yếu bởi protein, lipid, chất khoáng, nước và nhiều hợp chất khác, là môi trường cần thiết để tế bào hoà tan các chất dinh dưỡng, và cũng là nơi thực hiện các phản ứng sinh hoá. Ty thể: được cấu tạo từ chất béo và protein, ty thé tham gia thực hiện các phản ứng oxy hóa giải phóng năng lượng khỏi co chất, chuyền thành năng lương có ich cho hoạt động ống của tế bào. Nhân tế bào: nhân tế bào là nhân thực, nhân tế bảo có màng vỏ, hạch nhân và chất nhân, thành phần hóa học chủ yếu của nhân tế bảo nắm men là DNA, ngoài ra còn có RNA, nucleprotein và các gen, do đó nhân đóng vai trò quan trọng trong sinh san di truyền các tính trạng cho thé hệ sau.
Các cơ quan con khác: ribosome, không bào, mạng lưới nội chất,.