phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG NHỰA SUPERPAVE VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CHỐNG NỨT CỦA BÊ TÔNG NHỰA SUPERPAVE 1. Tổng quan về bê tông nhựa Superpave và phương pháp thiết kế hỗn hợp Mặt đường mềm (điển hình là mặt đường BTN) được áp dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay. Chất lượng BTN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến thiết kế hỗn hợp BTN.
Trên thế giới có rất nhiều phương pháp thiết kế hỗn hợp BTN đã và đang được áp dụng như: Phương pháp thiết kế của Barber Asphalt Paving Company năm 1890, Phương pháp thiết kế của Clifford Richardson năm 1905, Phương pháp thiết kế Hubbard Field năm 1920, Phương pháp thiết kế Hveem năm 1927, Phương pháp thiết kế Marshall năm 1943 và Phương pháp thiết kế Superpave năm 1993 [42]. Trong đó 02 phương pháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay là: Phương pháp thiết kế Marshall và Phương pháp thiết kế Superpave. Thuật ngữ “bê tông nhựa Superpave” được sử dụng trong đề tài này là tên rút gọn của “bê tông nhựa thiết kế theo phương pháp Superpave”. Phương pháp thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa theo Marshall Trước khi phương pháp Superpave ra đời, phương pháp thiết kế hỗn hợp BTN theo Marshall được áp dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ, nhiều nước trên thế giới (châu Âu, châu Á và ở Việt Nam).
Phương pháp thiết kế Marshall phải thoả mãn 2 yếu tố cơ bản sau: - Yếu tố về đặc tính thể tích: bao gồm các chỉ tiêu độ rỗng dư, độ rỗng cốt liệu, độ rỗng lấp đầy nhựa của hỗn hợp BTN. Các giá trị này phải nằm trong giới hạn quy định đảm bảo lớp BTN có khả năng chống biến dạng, chống chảy nhựa dưới tác động của tải trọng xe và yếu tố nhiệt độ môi trường, hạn chế sự xâm nhập của nước vào hỗn hợp trong quá trình khai thác. - Yếu tố về đặc tính cơ học: bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng cốt liệu và các chỉ tiêu liên quan đến cường độ của hỗn hợp BTN sau khi đầm nén (độ ổn định, độ dẻo) nhằm đảm bảo cho lớp BTN có đủ cường độ sau khi xây dựng. Việc lựa chọn loại nhựa đường được dựa trên tiêu chuẩn phân loại nhựa đường theo độ kim lún-AASHTO M20 [27] hoặc theo độ nhớt-AASHTO M226 [28].
Việc lựa chọn loại nhựa đường cho BTN phù hợp với điều kiện nhiệt độ môi trường dựa trên kinh nghiệm của từng nước theo khuyến nghị tại tài liệu MS-2 của Asphalt Institute “Phương pháp thiết kế hỗn hợp BTN” [56]. Cấp phối hỗn hợp cốt liệu BTN: sử dụng cấp phối hỗn hợp cốt liệu liên tục, theo công thức Fuller với hệ số mũ n=0,45. Đường bao hỗn hợp cốt liệu được khuyến nghị theo ASTM D3515 [44] và tùy từng địa phương, quốc gia có thể hiệu chỉnh cho phù hợp. Thiết kế Marshall nguyên bản không đưa ra quy định cấp phối thô - mịn và cách lựa chọn cấp phối thô - mịn khi thiết kế hỗn hợp BTN.
-5- Về phương pháp đầm tạo mẫu BTN: sử dụng chày đầm và khuôn đầm Marshall với số chày đầm là 75x2 chày. Phương pháp Marshall sử dụng các mẫu thí nghiệm hình trụ tròn có chiều cao 63,5mm, đường kính 101,6 mm; Phương pháp Marshall cải tiến sử dụng các mẫu thí nghiệm hình trụ tròn có chiều cao 95,2 mm, đường kính 152,4 mm. Trình tự thiết kế theo Marshall được chi tiết tại tài liệu Asphalt Institute MS-2 [56]. Tồn tại chủ yếu của phương pháp Marshall là: việc đầm đầm nén mẫu theo phương pháp Marshall được đánh giá là chưa mô phỏng hết được quá trình lu lèn thực tế ngoài hiện trường; chưa xem xét để khắc phục các hư hỏng chủ yếu của bê tông nhựa như: LVBX, nứt mỏi và nứt ở nhiệt độ thấp.
Mặc dù có những hạn chế, tuy nhiên phương pháp Marshall vẫn được áp dụng khá phổ biến trên thế giới do những lý do sau: - Thiết kế theo Marshall đơn giản, giá thành hệ thiết bị thí nghiệm không cao. - Nhiều nước đã có những kinh nghiệm thu nhận được qua quá trình nhiều năm áp dụng phương pháp Marshall và có những điều chỉnh phù hợp trên cơ sở những nghiên cứu dài hạn mặt đường BTN. Phương pháp thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa Superpave Phương pháp thiết kế Superpave là một trong những sản phẩm nổi bật của chương trình nghiên cứu chiến lược đường bộ (SHRP). Phương pháp thiết kế Superpave đã giải quyết vấn đề liên quan đến lựa chọn vật liệu (nhựa đường PG, cát, đá, bột khoáng) phục vụ cho thiết kế hỗn hợp BTN phù hợp với đặc tính dòng xe (lưu lượng xe, tốc độ xe lưu thông), nhằm giảm thiểu các hư hỏng mặt đường như nứt mỏi, nứt do nhiệt độ thấp, LVBX trong quá trình khai thác.
Phương pháp thiết kế Superpave hiện đang được áp dụng phổ biến tại Hoa Kỳ, Canada và nhiều quốc gia phát triển khác. Nguyên tắc thiết kế: Phương pháp thiết kế BTN theo Superpave tuân thủ theo nguyên tắc sau: sử dụng các vật liệu hợp lý để chế tạo ra một hỗn hợp BTN đạt được một mức độ nào đó về các khả năng làm việc của mặt đường BTN phù hợp với các yêu cầu về mức giao thông, môi trường, kết cấu mặt đường, và độ tin cậy. Hỗn hợp BTN được thiết kế (và đưa ra hàm lượng nhựa đường tối ưu) phải thoả mãn 2 yếu tố cơ bản sau: - Yếu tố về đặc tính thể tích: bao gồm độ rỗng dư, độ rỗng cốt liệu, độ rỗng lấp đầy nhựa của hỗn hợp BTN. Các giá trị này phải nằm trong giới hạn quy định.
- Yếu tố về đặc tính cơ học: bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng cốt liệu, các chỉ tiêu cường độ (khả năng làm việc) của hỗn hợp BTN và dự báo khả năng làm việc thực tế của mặt đường BTN trên cơ sở các thí nghiệm về đặc tính làm việc (Performance Test) của mẫu BTN. Phương pháp đầm tạo mẫu BTN: sử dụng thiết bị đầm xoay Superpave (SGC), với mẫu đầm có đường kính 150 mm, mô phỏng sự đầm nén BTN của lu trên mặt đường. Quy định về thiết bị đầm xoay, trình tự tạo mẫu theo hướng dẫn tại AASHTO T 312 [36]. -6- Việc lựa chọn cấp nhựa đường: theo phân cấp nhựa đường PG, theo tiêu chuẩn phân loại nhựa đường theo cấp đặc tính theo Superpave (AASHTO M320) [30].
Trình tự thiết kế hỗn hợp BTN theo Superpave theo đặc tính thể tích được hướng dẫn chi tiết tại các tiêu chuẩn hiện hành sau: Superpave Volumetric Mix Design- AASHTO M323 [29]; Practice for Superpave Volumetric Mix Design for Asphalt Mixture- AASHTO R35 [34]; TCVN 12818:2019 - Hỗn hợp BTN nóng - Thiết kế theo đặc tính thể tích Superpave [10]. Phân tích đánh giá những đặc thù của phương pháp thiết kế bê tông nhựa theo Superpave so với phương pháp Marshall 1. Phương pháp thiết kế Superpave kế thừa và phát triển một số nội dung của phương pháp thiết kế Marshall Những nội dung kế thừa và phát triển được tóm tắt như sau: 1). Các chỉ tiêu, phép thử kiểm tra đặc tính kỹ thuật của vật liệu: Các chỉ tiêu kỹ thuật cho đá dăm, cát, bột khoáng theo Superpave nhìn chung như quy định với Marshall.
Tuy nhiên, Superpave có đưa ra các mức chất lượng yêu cầu tương ứng với mức lưu lượng xe (ESAL) thiết kế, chi tiết xem [29]. Cấp phối hỗn hợp cốt liệu: Nhìn chung cấp phối hỗn hợp cốt liệu theo Marshall và theo Superpave cơ bản giống nhau, đều dựa trên cơ sở cấp phối liên tục, theo công thức Fuller với hệ số mũ n=0,45 (p = 100. Marshall sử dụng đường bao cấp phối theo ASTM D3515 tương ứng với cỡ hạt lớn nhất danh định 37,5; 25; 19; 12,5; 9,5. Mỗi đường bao cấp phối đưa ra lượng lọt sàng giới hạn qua 7 cỡ sàng: 4 cỡ sàng bắt buộc (cỡ sàng lớn nhất, cỡ sàng lớn nhất danh định, cỡ sàng 2,36 mm và cỡ sàng 0,075 mm) và 3 cỡ sàng trung gian.
Superpave sử dụng đường bao cấp phối theo Superpave tương ứng với cỡ hạt lớn nhất danh định như với ASTM D3515. Tuy nhiên, mỗi đường bao cấp phối chỉ đưa ra lượng lọt sàng giới hạn ứng với 4 cỡ sàng bắt buộc (cỡ sàng lớn nhất, cỡ sàng lớn nhất danh định, cỡ sàng 2,36 mm và cỡ sàng 0,075 mm). Các giới hạn lọt sàng tại 4 cỡ sàng này theo Superpave có cùng giá trị lượng lọt sàng so với quy định tại ASTM D3515 (áp dụng cho Marshall), chi tiết xem [29]. Các chỉ tiêu thí nghiệm, tính toán liên quan đến đặc tính thể tích: Các chỉ tiêu thí nghiệm, tính toán xác định các đặc tính thể tích của mẫu BTN như độ rỗng dư, độ rỗng cốt liệu, độ rỗng lấp đầy nhựa theo Superpave và Marshall là giống nhau, đều dựa trên hướng dẫn của Asphalt Institute MS-2 [56].
Những đặc thù của phương pháp Superpave So với phương pháp thiết kế Marshall, phương pháp thiết kế Superpave có đặc thù (ưu điểm) nổi bật sau: -7- 1). Đầm mẫu BTN bằng đầm xoay Thiết bị đầm xoay (SGC) là sản phẩm của SHRP nhằm mô phỏng được quá trình đầm nén BTN như ngoài hiện trường và các điều kiện ảnh hưởng của tải trọng xe chạy. Do bộ phận gia tải tiếp xúc với mẫu, mẫu vừa bị tác dụng của lực thẳng đứng, vừa bị tác động của mô men xoắn nên bị nén chặt lại. Cách đầm này mô phỏng như cách lu lèn BTN tại hiện trường.
Cách đầm này có ưu điểm hơn hẳn cách đầm mẫu Marshall, mẫu đầm chặt do tác động của xung lực, do quả búa rơi ở độ cao quy định (50 cm), dẫn tới dễ bị vỡ hạt cốt liệu. Tùy thuộc vào lưu lượng xe thiết kế (ESAL), Superpave quy định số lần (vòng) đầm xoay khác nhau, chi tiết xem [34]. Quy định về độ chặt lớn nhất cho phép (tỷ trọng khối yêu cầu) ứng với các số vòng đầm mẫu (công đẩm nén) quy định: ban đầu (Nini), thiết kế (Ndes); lớn nhất (Nmax): Khác với phương pháp Marshall chỉ quy định đầm nén mẫu với chày đầm lớn nhất (ví dụ 75 chày x 2) và xác định độ chặt (tỷ trọng khối) của mẫu, Superpave quy định phải đầm nén mẫu với 3 mức vòng đầm xoay gọi là: số vòng xoay ban đầu ban đầu (Nini), thiết kế (Ndes); lớn nhất (Nmax) và độ chặt tương ứng của các mức đầm đó phải thỏa mãn yêu cầu quy định, chi tiết xem [29]. Việc quy định đó có ưu điểm là đã xem xét đến đặc tính góc cạnh của cốt liệu cũng như của cấp phối cốt liệu trong hỗn hợp BTN.