Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. VIÊM PHỔI Ở TRẺ EM 1. Định nghĩa và phân loại Viêm phổi là viêm nhu mô phổi, một biểu hiện của nhiễm khuẩn hô hấp dưới, bao gồm: viêm phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phổi thùy, áp xe phổi [36], [45]. Phân loại - Theo giải phẫu: + Viêm phế quản phổi: chiếm 80%, thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi.
+ Viêm phổi thùy hay tiểu thùy: thường gặp ở trẻ trên 3 tuổi. + Viêm phổi kẽ: gặp mọi lứa tuổi [18], [65]. - Theo độ nặng: + Viêm phổi rất nặng: ho hoặc khó thở kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau: tím tái trung ương; bỏ bú, bú kém (trẻ dưới 2 tháng), không uống được; co giật, li bì, khó đánh thức; suy hô hấp nặng. + Viêm phổi nặng: ho hoặc khó thở kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau: thở rút lõm lồng ngực; cánh mũi phập phồng; rên rỉ (trẻ dưới 2 tháng tuổi); và không có các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân.
Mọi trường hợp viêm phổi ở trẻ dưới 2 tháng tuổi đều được đánh giá là nặng. + Viêm phổi: ho hoặc khó thở kèm theo thở nhanh và không có dấu hiệu viêm phổi nặng và rất nặng [36], [46], [65]. Tình hình viêm phổi ở trẻ em Viêm phổi là nguyên nhân chủ yếu đưa đến nhập viện và tử vong ở trẻ bị nhiễm trùng hô hấp cấp tính. Trẻ dưới 5 tuổi có nguy cơ mắc và tử vong cao 4 nhất.
WHO ước tính, năm 2006, 20% tổng số trẻ tử vong là do nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính trong đó 90% do viêm phổi [18], [31], [95]. Ở Việt Nam nguyên nhân gây tử vong cao nhất là do viêm phổi 2,8%, chiếm 33% tử vong do mọi nguyên nhân ở nước ta [18], [36]. Hoàn cảnh kinh tế-xã hội thấp; môi trường sống đông đúc, kém vệ sinh; khói bụi, khói thuốc lá trong nhà; sinh non tháng, nhẹ cân, suy dinh dưỡng, sởi, thiếu vitamin A; thời tiết lạnh; không biết cách chăm sóc trẻ là những yếu tố thuận lợi gây viêm phổi [18], [51]. Nguyên nhân Thay đổi tùy theo lứa tuổi, có thể do vi sinh, hay không do vi sinh, quá mẫn, thuốc, chất phóng xạ.
Đối với các nước đang phát triển: - Trẻ dưới 5 tuổi: viêm phổi được xem như do vi khuẩn, thường gặp là: S. - Trẻ dưới 2 tháng có thể gặp thêm vi khuẩn gram âm đường ruột: E.coli, Klebsiella, Proteus. Influenzae (type b, non typable), influenzaevirus, Adenovirus. Lâm sàng Thay đổi theo tuổi, độ nặng bệnh và tác nhân gây bệnh [18].
Giai đoạn khởi phát - Nhiễm siêu vi hô hấp trên: sốt nhẹ, sổ mũi, ho. - Triệu chứng nhiễm trùng: sốt, lạnh run, nhức đầu, quấy khóc ở trẻ nhỏ. - Triệu chứng tiêu hóa: ói, ọc, biếng ăn, đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy thường gặp ở trẻ nhỏ. Chưa thấy triệu chứng đặc hiệu ở phổi [18].
Giai đoạn toàn phát - Nhóm dấu hiệu, triệu chứng không đặc hiệu: + Sốt nhẹ hay cao tùy nguyên nhân gây bệnh. 5 + Mệt mỏi, quấy khóc, nhức đầu, ớn lạnh. + Rối loạn tiêu hóa: nôn ói, chướng bụng, tiêu chảy và đau bụng [18]. - Nhóm dấu hiệu triệu chứng tại phổi: có giá trị nhất trong chẩn đoán viêm phổi.
+ Ho: ho khan, ho có đàm, ở trẻ nhỏ có thể không có ho. + Suy hô hấp: thở nhanh, khó thở, rên, co kéo cơ bụng và cơ liên sườn, phập phồng cánh mũi, tím tái. + Khám: gõ đục khi có đông đặc phổi hoặc tràn dịch màng phổi. Nghe có phế âm thô, tiếng vang thanh khí quản, giảm phế âm, ran nổ, ẩm nhỏ hạt thường ở trẻ lớn và không có ở trẻ nhủ nhi [18].
- Nhóm triệu chứng màng phổi: + Đau ngực khi thở. + Hội chứng ba giảm. - Nhóm dấu hiệu triệu chứng ngoài phổi: + Nhọt da, viêm cơ đi kèm viêm phổi do liên cầu nhóm A hay tụ cầu. + Viêm thanh thiệt, màng ngoài tim đi kèm với viêm phổi do H.
+ Viêm tai giữa, viêm xoang, viêm màng não đi kèm với viêm phổi do phế cầu, H. Cận lâm sàng 1. X quang phổi: giúp chẩn đoán, góp phần xác định nguyên nhân và cho biết độ nặng của viêm phổi. - Viêm phế quản phổi: rốn phổi đậm, tăng sinh tuần hoàn phổi, thâm nhiễm.
Thường do tụ cầu hay vi khuẩn khác. - Viêm phổi mô kẽ: sung huyết mạch máu, dày thành phế quản, tăng sáng phế trường, mờ từng mảng. Thường do virus hoặc Mycoplasma. - Viêm phổi thùy, phân thùy: mờ đồng nhất một thùy hay phân thùy, hình ảnh nội khí quản trên bóng mờ.
Thường do phế cầu hay vi khuẩn khác [21], [91]. 6 Các xét nghiệm hình ảnh khác: siêu âm ngực (đánh giá dịch màng phổi, cơ hoành), CT ngực hay MRI ngực (xác định vị trí và độ nặng của áp xe, bóng khí, khối u. Công thức máu - Bạch cầu ≥ 15000/mm3, ưu thế đa nhân: viêm phổi do vi khuẩn. - Bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ, ưu thế lympho: viêm phổi do virus.
- Tiểu cầu tăng: >90% viêm phổi do vi khuẩn [18], [60]. Xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm trùng và viêm - VS tăng trong viêm phổi mạn, kéo dài hay có biến chứng. - CRP ≥20mg/L trong viêm phổi cấp do vi khuẩn [18]. - Procalcitonin <0,5ng/mL gợi ý viêm phổi có khả năng do virus, ≥0,5 ng/mL gợi ý nguyên nhân vi khuẩn, >2ng/mL có độ nhạy và đặc hiệu cao trong phân biệt viêm phổi do vi khuẩn với virus [29], [78].
- Xét nghiệm đàm: lấy đàm qua ho khạc, hút dịch khí quản qua mũi (NTA-Nasal Tracheal Aspiration), hút dịch dạ dày. Tìm tác nhân gây bệnh: nhuộm gram, soi, cấy và làm kháng sinh đồ [18]. Phương pháp hút dịch NTA: dụng cụ gồm bộ hút dịch (Tracheal Suction Set) và máy hút chân không. Bệnh nhi được ẵm nằm ngửa vào lòng, giữ đầu hơi ngửa ra sau, đo khoảng cách từ cánh mũi-trái tai-trái cổ bệnh nhi.
Đưa catheter từ từ vào mũi sâu đến bằng khoảng cách ước lượng, hút bệnh phẩm ngay lúc bệnh nhi ho-đỏ mặt, rút catheter ra từ từ, không xoay ống và không hút trên đường rút. Sau đó hút rửa catheter với 1ml NaCl 9‰, tháo dây dẫn, đậy kín nắp, gửi mẫu đi xét nghiệm (có thể trữ trong tủ lạnh <2 giờ) [39]. - Cấy máu: phương pháp đặc hiệu giúp xác định tác nhân gây bệnh nhưng kết quả không cao [18]. 7 - Xét nghiệm xác định kháng nguyên vi khuẩn: điện di miễn dịch đối lưu, phản ứng ngưng kết hạt Latex, PCR [18], [30].
Các xét nghiệm khác - Dịch màng phổi: xét nghiệm sinh hóa, nuôi cấy, làm kháng sinh đồ. - Nội soi khí-phế quản: chẩn đoán (+) 27-55% có bệnh lý tiềm ẩn. - Sinh thiết phổi mù, chọc hút phổi qua da: ít làm do nhiều biến chứng [18], [30]. Diễn tiến và biến chứng - Diễn tiến của viêm phế quản phổi ở trẻ em thường là tốt, bệnh khỏi sau 7-10 ngày điều trị.
Nhưng nếu chẩn đoán muộn và điều trị không kịp thời, điều trị không đúng thì dễ đưa đến suy hô hấp cấp, tỉ lệ tử vong rất cao. - Biến chứng: mủ màng phổi, tràn khí màng phổi, áp xe phổi, viêm tai giữa cấp, viêm màng não, viêm tiểu thiệt, viêm khớp. Thường gặp trẻ dưới 2 tuổi, có bệnh lý khác đi kèm, trẻ không được điều trị tích cực và hợp lý [18]. Nguyên tắc điều trị - Hỗ trợ hô hấp khi có suy hô hấp: oxy, thở NCPAP, đặt nội khí quản- thở máy.
- Kháng sinh chống nhiễm khuẩn. - Điều trị hỗ trợ: hạ sốt, dãn phế quản, nhu cầu dinh dưỡng, nước-điện giải. Điều chỉnh rối loạn khí-máu, thăng bằng kiềm-toan [36]. SUY HÔ HẤP CẤP Ở TRẺ EM 1.
Định nghĩa Suy hô hấp cấp là tình trạng hệ hô hấp không còn đủ khả năng duy trì sự trao đổi khí, gây giảm oxy (O2) máu động mạch kèm theo hay không kèm theo tăng cacbonic (CO2) máu [3], [6], [11]. 8 Do bộ máy hô hấp chưa hoàn chỉnh về chức năng và cấu tạo, vỏ não chưa trưởng thành nên chưa điều hòa hoàn chỉnh hô hấp, nên trẻ rất dễ bị suy hô hấp khi viêm phổi [17], [19]. Chẩn đoán xác định - Lâm sàng: + Thở nhanh: khi nhịp thở. ≥60 lần/phút: trẻ dưới 2 tháng tuổi.
≥50 lần/phút: trẻ từ 2 tháng-<12 tháng tuổi. ≥40 lần/phút: trẻ từ 12 tháng-<5 tuổi. ≥30 lần/phút: Trẻ ≥ 5 tuổi. + Có hoặc không tím tái: tím tái là dấu hiệu muộn.
- Cận lâm sàng: + SaO2 <90%. + PaO2 <60mmHg và hoặc PaCO2 >50mmHg với FiO2 =21% [3], [6]. Cơ chế bệnh sinh suy hô hấp cấp SHHC xảy ra do rối loạn một hay nhiều yếu tố: thông khí phế nang, tuần hoàn máu phổi, khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang-mao mạch, hoạt động của trung tâm hô hấp, thành ngực và hoạt động của các cơ hô hấp. Giảm thông khí phế nang - Thông khí toàn bộ bị giảm: do giảm thể tích khí lưu thông hay giảm tần số thở.
- Thể tích khoảng chết tăng: do hiện tượng ứ khí phế nang gây ra. Hậu quả của giảm thông khí phế nang làm giảm PaO2 và tăng PaCO2 máu [3], [11]. Bất tương xứng giữa thông khí và tưới máu phế nang Bất tương xứng là nguyên nhân thường gặp gây suy hô hấp. Có hai hiện tượng bất tương xứng thông khí và tưới máu: 9 - Shunt phổi: khi tưới máu vượt quá thông khí ở một phế nang thì máu rời khỏi phế nang đó không được oxy hóa một cách đầy đủ, tạo thành shunt phổi.
- Thông khí khoảng chết: khi tưới máu của một phế nang bị giảm trong khi thông khí vẫn hoàn toàn bình thường thì máu qua phế nang đó cũng không được oxy hóa đầy đủ [3], [11]. Rối loạn khuếch tán qua màng hô hấp Tình trạng block phế nang- mao mạch xảy ra do tình trạng phù nề các phế nang, tổ chức kẽ hoặc do bệnh màng trong, làm dầy màng hô hấp, hạn chế quá trình khuếch tán của oxy và CO2, dẫn đến giảm PaO2 và tăng PaCO2 máu [3], [11]. Hoạt động của trung tâm hô hấp Khi trung tâm hô hấp bị tổn thương, việc điều hòa hô hấp bị ảnh hưởng dù hệ thống đường thở, các cơ hô hấp, phổi vẫn bình thường [3], [11]. Hậu quả của suy hô hấp cấp 1.
Hậu quả do tăng CO2 máu - Đối với trung tâm hô hấp: nếu PaCO2 tăng vừa (<70mmHg) sẽ kích thích trung tâm hô hấp làm tăng nhịp thở, nếu tăng quá cao (>70mmHg) sẽ ức chế trung tâm hô hấp và có thể gây ngưng thở. - Đối với tuần hoàn: PaCO2 tăng sẽ gây co mạch trung tâm làm giảm lượng máu đến các phủ tạng nếu kéo dài sẽ gây suy tim, suy thận, phù não. Tăng PaCO2 còn gây dãn mạch ngoại vi làm cho chân tay lạnh, nhiều mồ hôi.