Tổng quan luận án

Bệnh lý sỏi tiết niệu chiếm tỷ lệ từ 1% đến 15% dân số toàn cầu, trong đó sỏi thận chiếm khoảng 40% các trường hợp sỏi niệu nói chung. Việt Nam nằm trong khu vực "vành đai sỏi" của thế giới với tỷ lệ mắc bệnh cao. Do các đặc điểm về kinh tế - xã hội và thói quen y tế, nhiều bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn khi sỏi đã có kích thước lớn (> 2cm), gây ứ nước thận, suy giảm chức năng thận và kèm theo nhiều biến chứng nhiễm khuẩn.

Theo các hướng dẫn điều trị của Hiệp hội Tiết niệu châu Âu (EAU) và Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA), phẫu thuật lấy sỏi thận qua da (Percutaneous Nephrolithotomy - PCNL) được xác định là phương pháp điều trị can thiệp được lựa chọn đầu tiên đối với các trường hợp sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm. Mặc dù tỷ lệ mổ mở ở các nước phát triển đã giảm xuống còn 1% - 5,4%, tại Việt Nam, việc triển khai và tối ưu hóa phương pháp lấy sỏi thận qua da đối với sỏi lớn đòi hỏi những đánh giá toàn diện về tính an toàn và hiệu quả. Khoảng trống nghiên cứu thực tế cho thấy, các công trình trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào sỏi thận có kích thước nhỏ hoặc vừa, hoặc chỉ dừng lại ở việc mô tả tỷ lệ sạch sỏi ban đầu và theo dõi nồng độ creatinin máu thông thường. Việc đánh giá chuyên sâu các yếu tố giải phẫu, mức độ phức tạp của sỏi theo các thang điểm chuẩn hóa quốc tế, phân loại tai biến biến chứng theo hệ thống Clavien - Dindo và đặc biệt là định lượng sự thay đổi chức năng riêng rẽ của từng thận bằng phương pháp xạ hình thận (Tc99m-DTPA) tại các thời điểm sau mổ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Đề tài luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Đình Nguyên với tiêu đề: "Nghiên cứu kết quả điều trị sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da", thuộc chuyên ngành Ngoại khoa (mã số: 9720104), thực hiện tại Học viện Quân y dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Lê Chuyên và PGS.TS. Lê Anh Tuấn, được triển khai nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống khoa học này.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá kết quả và một số yếu tố liên quan trong điều trị sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
  2. Đánh giá chức năng thận sau điều trị sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận có kích thước lớn hơn 2cm, được chỉ định và điều trị bằng phương pháp lấy sỏi thận qua da. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp rối loạn đông máu chưa kiểm soát, nhiễm khuẩn tiết niệu chưa ổn định, có khối u tại vị trí tạo đường hầm hoặc u thận, và phụ nữ đang mang thai.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Phẫu thuật Tiết niệu kết hợp với Khoa Y học hạt nhân thuộc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
  • Phạm vi thời gian: Luận án hoàn thành bảo vệ năm 2021, theo dõi người bệnh dọc theo các mốc thời gian: trước phẫu thuật, ngày thứ nhất sau mổ, 1 tháng sau mổ và thời điểm ≥ 3 tháng sau mổ (bao gồm phân tích phân nhóm ở các bệnh nhân có thận đơn độc chức năng).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại lịch sử phát triển của phương pháp lấy sỏi thận qua da từ những ca can thiệp đầu tiên của Fernstrom I. và cộng sự (1976), Alken P. và cộng sự (1981). Trong can thiệp sỏi thận kích thước lớn (> 2cm), tác giả phân tích vị trí của phương pháp này khi đặt cạnh các kỹ thuật ít xâm lấn khác:

  • Nội soi niệu quản ngược dòng tán sỏi bằng ống soi mềm: Báo cáo tổng hợp của De S. và cộng sự (2015) ghi nhận kích thước sỏi trung bình là 2,7cm, tỷ lệ sạch sỏi đạt 91% nhưng số lần mổ trung bình là 1,45 lần/bệnh nhân và tỷ lệ biến chứng độ ≥ III theo Clavien là 4,5%; phương pháp này chỉ được khuyến cáo thay thế khi không thể thực hiện lấy sỏi thận qua da.
  • Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL/TSNCT): Tỷ lệ sạch sỏi dao động từ 39% đến 81% và đòi hỏi can thiệp nhiều lần; công trình của tác giả Trần Đình Hưng (2012) trên sỏi kích thước trung bình 2,97cm cho thấy tỷ lệ sạch sỏi chỉ đạt 66,7% với số lần tán trung bình là 2,19 lần/bệnh nhân và tỷ lệ can thiệp bổ sung là 16%.

Về kết quả sạch sỏi và tai biến biến chứng trên thế giới:

  • Nghiên cứu của Karamik K. và cộng sự (2016) tổng hợp hơn 30 công trình giai đoạn 2009 - 2012 cho thấy tỷ lệ sạch sỏi dao động từ 43% đến 96,7%.
  • Nghiên cứu đa trung tâm của Hiệp hội Nghiên cứu Nội soi niệu (CROES) do de la Rosette J. và cộng sự (2011) thực hiện trên 5.803 bệnh nhân tại 96 trung tâm ghi nhận: tỷ lệ truyền máu là 5,7%, thủng đài bể thận là 3,4%, cấy khuẩn nước tiểu trước mổ dương tính 15,9% và tỷ lệ sốt sau mổ là 10,5%.
  • Tổng hợp của Seitz C. và cộng sự (2012) từ 115 nghiên cứu với 11.929 bệnh nhân xác định tỷ lệ truyền máu quanh mổ từ 0% đến 12,3% (trung bình 7%), can thiệp nút mạch từ 0% đến 1,5% (trung bình 0,4%), sốt sau mổ từ 2,8% đến 32,1%, nhiễm khuẩn nặng từ 0% đến 1,1%, tổn thương tạng ngực trung bình 1,5% (0% - 11,6%), tụ dịch nước tiểu sau phúc mạc trung bình 0,2%, và tỷ lệ tử vong trung bình là 0,05%.
  • Về nguy cơ tổn thương cơ quan lân cận: Munver R. và cộng sự (2001), Lang E. và cộng sự (2009) chỉ ra nguy cơ tổn thương phổi và màng phổi khi chọc dò trên xương sườn 11 là 14% (bên trái) và 29% (bên phải) ở tư thế nằm sấp; Sukumar S. và cộng sự (2006) ghi nhận tỷ lệ tràn dịch màng phổi khi chọc trên sườn là 15,3% so với 1,4% khi chọc dưới sườn. Đối với đại tràng, Hopper K. và cộng sự (1987) khảo sát cắt lớp vi tính ghi nhận tỷ lệ đại tràng nằm sau thận có ý nghĩa là 4,7% ở tư thế nằm sấp, tập trung 80% ở cực dưới thận phải; El-Nahas A.R. và cộng sự (2006) trên 5.039 bệnh nhân và Kyriazis I. và cộng sự (2015) trên 804 bệnh nhân đều ghi nhận tỷ lệ thủng đại tràng thực tế là 0,3%.

Về đánh giá chức năng thận sau can thiệp:

  • Thực nghiệm trên động vật: Webb D. và cộng sự (1985) chứng minh đường nong thận trên chó gây tổn thương từ 100 đến 200 đơn vị nephron. Traxer O. và cộng sự (2001) thực nghiệm trên lợn nhận thấy thể tích sẹo nhu mô thận do đường hầm 11F và 30F gây ra tương ứng là 0,29ml và 0,40ml (tương đương mất 0,63% và 0,91% nhu mô), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai kích cỡ. Handa R. và cộng sự (2006, 2009, 2010) đánh giá mức lọc cầu thận (GFR) và dòng chảy huyết tương thận hiệu ứng (ERPF) qua độ thanh thải Inulin và Paraaminohippuric acid (PAH), ghi nhận tình trạng co mạch cấp tính làm giảm chức năng thận ở thời điểm 1,5 giờ và 4,5 giờ, nhưng chỉ số GFR phục hồi về mức gần bình thường sau 72 giờ.
  • Lâm sàng và xạ hình thận: Moskowitz G.W. và cộng sự (1986) dùng Tc99m-DTPA trên 11 bệnh nhân thấy GFR giảm ở giờ thứ nhất và hồi phục về mức trước mổ sau 2 tuần. Bùi Quang Biểu và cộng sự (2012) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 xác lập các chỉ số xạ hình thận tham chiếu ở người Việt Nam khỏe mạnh với Tc99m-DTPA. Khảo sát của Bryniarski P. và cộng sự (2014) trên 83 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên chỉ ra chỉ có 10 nghiên cứu theo dõi chức năng thận sau mổ, từ đó khuyến nghị đánh giá creatinin máu kết hợp định lượng GFR trước và sau mổ 1 tháng.

Tình hình nghiên cứu trong nước: Tại Việt Nam, sau các ca mổ lấy sỏi thận qua da đầu tiên do Vũ Văn Ty triển khai năm 1997 và Nguyễn Tuấn Vinh báo cáo năm 2000, các công trình của Nguyễn Đình Xướng (2008) tại Bệnh viện Bình Dân (175 bệnh nhân, dùng dịch rửa Sorbitol 3%, không đánh giá chức năng thận) và Vũ Nguyễn Khải Ca (2009) tại Bệnh viện Việt Đức (78 bệnh nhân, sỏi > 2cm chiếm 71,8%, sạch sỏi 69,6%, đánh giá chức năng thận chỉ dựa trên creatinin máu) đã đặt nền móng ban đầu. Các tác giả Lê Sĩ Trung (2012), Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2014), Trương Văn Cẩn (2014), Nguyễn Văn Truyện (2016) tiếp tục công bố các khía cạnh kỹ thuật và biến chứng.

Vị trí của luận án: Luận án của Lê Đình Nguyên là công trình chuyên sâu giải quyết đồng bộ vấn đề can thiệp lấy sỏi thận qua da trên nhóm bệnh nhân sỏi thận kích thước lớn hơn 2cm tại Việt Nam. Luận án kết hợp đánh giá tỷ lệ sạch sỏi, phân tích các yếu tố liên quan dựa trên các hệ thống phân loại sỏi quốc tế, chuẩn hóa tai biến biến chứng theo Clavien - Dindo, và sử dụng phương pháp xạ hình thận Tc99m-DTPA để theo dõi sự hồi phục chức năng thận riêng rẽ theo các mốc thời gian khách quan.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng

  • Giải phẫu thận và liên quan khoang sau phúc mạc: Trục dọc của thận nghiêng từ trên xuống dưới, chếch ra ngoài, cực dưới xoay ra trước khoảng 30° so với mặt phẳng đứng ngang. Mặt sau thận liên quan với xương sườn 12, cơ hoành, ngách sườn hoành của màng phổi và dây chằng Haller. Để tránh tổn thương đại tràng nằm sau thận, hướng chọc kim vào mặt sau cực dưới thận không được vượt quá góc 30° ra phía ngoài (theo khuyến cáo của Hopper K. và cộng sự).
  • Hệ thống đài - bể thận: Áp dụng phân loại cấu trúc 3 chiều của Sampaio F. (1988) gồm Nhóm A (62,2% - các đài giữa đổ vào đài lớn trên/dưới, chia thành Type A1 và Type A2) và Nhóm B (37,8% - các đài giữa đổ trực tiếp vào bể thận, chia thành Type B1 và Type B2). Phân bố đài nhỏ theo dạng Brodel hoặc Hodson (Kaye K., 1984). Luận án áp dụng nghiên cứu của Eisner B. (2009) và Miller J. (2013) về giải phẫu đài dưới: lựa chọn chọc vào đài thứ 2 (đài hướng ra sau) để tạo đường hầm tiếp cận sỏi an toàn và thuận lợi nhất.
  • Mạch máu và nguyên tắc chọc dò: Động mạch thận chia nhánh trước bể thận (cung cấp 3/4 lượng máu) và nhánh sau bể thận (1/4 lượng máu). Vùng vô mạch Brodel nằm dọc bờ ngoài thận, lùi về phía sau khoảng 1cm. Nghiên cứu thực nghiệm ăn mòn của Smith A. (2012) chỉ ra rằng: chọc qua cổ đài gây tổn thương mạch máu từ 38,4% đến 68,2% (tổn thương động mạch từ 13,6% đến 26,5%); chọc trực tiếp vào bể thận gây tổn thương động mạch 16,1%; trong khi chọc xuyên qua đỉnh nhú đài thận chỉ gây rách tĩnh mạch nhỏ ngoại vi (7,1% - 8,3%) và không làm tổn thương các nhánh động mạch lớn. Do đó, kỹ thuật chọc qua nhú đài thận là nguyên tắc bắt buộc để hạn chế chảy máu.
  • Các thang điểm đánh giá mức độ phức tạp của sỏi: Luận án sử dụng thang điểm Guy's Stone Score (GSS) do Thomas K. và cộng sự (2011) xây dựng (từ độ I đến độ IV); hệ thống tính điểm CROES (Smith A., 2013); thang điểm S-ReSC (Jeong C., 2013) dựa trên chụp cắt lớp vi tính; thang điểm hình thái học sỏi san hô (Mishra S., 2013) và bảng điểm S.T.O.N.E. (Okhunow Z., 2013).
  • Phân loại tai biến, biến chứng: Áp dụng thang phân loại Clavien - Dindo chuẩn hóa 5 mức độ (Độ I đến Độ V) theo khuyến cáo của Hiệp hội Tiết niệu châu Âu và nghiên cứu CROES của de la Rosette J. và cộng sự (2012).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, mô tả cắt dọc, theo dõi tiến cứu kết hợp thu thập số liệu lâm sàng.
  • Quy trình kỹ thuật can thiệp:
    1. Bước 1: Đặt bệnh nhân ở tư thế sản khoa, soi bàng quang niệu đạo, đặt ống thông (catheter) niệu quản ngược dòng cùng bên có sỏi lên bể thận để bơm thuốc cản quang hoặc không khí nhằm hiện hình hệ thống đài bể thận, lưu ống thông bàng quang.
    2. Bước 2: Chuyển bệnh nhân sang tư thế nằm sấp có độn gối vùng thắt lưng.
    3. Bước 3: Chọc dò đài thận dưới hướng dẫn của màn huỳnh quang tăng sáng (C-arm) (có phối hợp xoay các góc hoặc phối hợp siêu âm). Kim chọc đi xuyên qua da, lớp mỡ quanh thận, bao xơ và đi qua đỉnh nhú đài thận vào đường bài xuất. Rút nòng kim thấy nước tiểu chảy ra, luồn dây dẫn đường (guidewire) vào đài bể thận hoặc xuống niệu quản.
    4. Bước 4: Rạch da, nong tạo đường hầm vào thận theo dây dẫn đường bằng bộ nong Amplatz tuần tự đến kích cỡ mong muốn (đặt vỏ bọc Amplatz kích thước tiêu chuẩn 26F - 30F hoặc kích cỡ nhỏ hơn).
    5. Bước 5: Đưa máy nội soi thận vào kiểm tra đài bể thận, xác định vị trí sỏi. Sử dụng máy tán sỏi Swiss LithoClast Master (tán sỏi bằng khí nén kết hợp siêu âm và hút vụn sỏi) hoặc kìm gắp sỏi để lấy sỏi ra ngoài. Dịch rửa phẫu thuật sử dụng dung dịch natri clorid 0,9% đẳng trương vô khuẩn với áp lực tưới rửa kiểm soát.
    6. Bước 6: Đặt ống thông dẫn lưu thận ra da (nephrostomy) và/hoặc đặt ống thông niệu quản ngược dòng (thông JJ) tùy thuộc vào độ tổn thương đài bể thận, tình trạng chảy máu và lượng sỏi sót.
Nhóm thông số Phương pháp và công cụ đánh giá Thời điểm thực hiện
Đặc điểm lâm sàng & sinh hóa Đo dấu hiệu sinh tồn, công thức máu (HC, Hb, Hct), điện giải đồ ($Na^+$, $K^+$, $Cl^-$), nồng độ creatinin máu, tổng phân tích nước tiểu, cấy vi khuẩn niệu. Trước mổ, ngày thứ 1 sau mổ, 1 tháng sau mổ, $\ge$ 3 tháng sau mổ.
Hình thái sỏi và hệ tiết niệu Chụp X-quang hệ tiết niệu không chuẩn bị (KUB), chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV), chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đánh giá kích thước, diện tích bề mặt, mức độ cản quang, mức độ ứ nước thận và thang điểm GSS. Trước can thiệp, trong mổ (C-arm), sau mổ kiểm tra sạch sỏi.
Chức năng thận riêng rẽ Xạ hình thận với dược chất phóng xạ $Tc99m\text{-DTPA}$ theo phương pháp Gates cải biên: xác định mức lọc cầu thận ($GFR$), tưới máu tương đối ($RP$), chức năng tương đối ($RF$), thời gian đạt đỉnh ($T_{max}$), thời gian bán thải ($T_{1/2}$). Trước mổ, sau mổ 1 tháng, sau mổ $\ge$ 3 tháng.
Tai biến và biến chứng Theo dõi mất máu, tụ dịch, thủng tạng, hội chứng đáp ứng viêm hệ thống ($SIRS$), phân loại theo thang Clavien - Dindo. Trong mổ và toàn bộ thời gian hậu phẫu.
  • Xử lý số liệu: Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất. Sử dụng các thuật toán thống kê y học: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, so sánh các biến định tính bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), so sánh các biến định lượng ghép cặp trước - sau mổ bằng Paired t-test hoặc Wilcoxon test, phân tích tương quan Pearson/Spearman; ngưỡng ý nghĩa thống kê xác định ở mức $p < 0,05$. Đề tài được thông qua hội đồng đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các y văn liên quan đến đề tài với 4 trục nội dung chính:

  • Giải phẫu thận ứng dụng: Phân tích cụ thể trục thận, tương quan mặt sau với xương sườn 11, 12, màng phổi, phúc mạc, cơ hoành và góc nghiêng đại tràng theo Hopper K. (1987). Mô tả chi tiết phân loại hệ thống đài bể thận theo Sampaio F. (1988) gồm 140 tiêu bản đài bể thận, đặc điểm trục đài nhỏ theo Brodel và Hodson, cùng nghiên cứu lựa chọn đài chọc dò thứ 2 của Eisner B. (2009) và Miller J. (2013). Mô tả hệ thống mạch máu thận, diện vô mạch Brodel, sự phân bố tĩnh mạch cổ đài và kết quả nghiên cứu mô bệnh học của Smith A. (2012) khẳng định tính an toàn tuyệt đối khi chọc xuyên đỉnh nhú đài thận.
  • Lịch sử và vị trí phương pháp: Lược sử từ Fernstrom (1976), phân tích khuyến cáo của EAU (2010, 2020) và AUA (2020) xác định lấy sỏi thận qua da là lựa chọn ưu tiên cho sỏi > 2cm; so sánh tương quan hiệu quả với tán sỏi ngoài cơ thể và nội soi ngược dòng ống mềm.
  • Các thang điểm tiên lượng và phân loại biến chứng: Chi tiết hóa thang điểm Guy's Stone Score (Thomas K., 2011), CROES (Smith A., 2013), S-ReSC (Jeong C., 2013), Staghorn morphometry (Mishra S., 2013) và S.T.O.N.E. (Okhunow Z., 2013); trình bày thang phân loại tai biến biến chứng Clavien - Dindo (2004) và nghiên cứu chuẩn hóa của de la Rosette J. (2012).
  • Ảnh hưởng của phẫu thuật lên chức năng thận và vai trò của xạ hình thận: Tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm trên động vật của Webb D. (1985), Traxer O. (2001), Handa R. và cộng sự (2006, 2009, 2010) về sự co mạch cấp tính, tổn thương tế bào ống thận và thể tích sẹo nhu mô nhỏ (0,29 - 0,40ml). Trình bày cơ sở nguyên lý của kỹ thuật y học hạt nhân với các dược chất phóng xạ Tc99m-DTPA (đo GFR, lọc qua cầu thận không tái hấp thu) và Tc99m-DMSA (khảo sát hình thái vỏ thận); tổng kết các nghiên cứu lâm sàng của Marberger M. (1985), Moskowitz G.W. (1986), Bùi Quang Biểu (2012), Itoh K. (2003) và khuyến cáo của Bryniarski P. (2014). Điểm lại các công trình trong nước từ năm 1997 đến 2016.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận và các bước tiến hành thực nghiệm lâm sàng:

  • Xác định tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân có sỏi thận > 2cm và tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt theo các chống chỉ định phẫu thuật.
  • Trình bày sơ đồ quy trình nghiên cứu từ khâu thăm khám ban đầu, đánh giá hình thái học sỏi trên phim KUB, UIV và CLVT, tính điểm độ phức tạp của sỏi theo GSS.
  • Mô tả chi tiết trang thiết bị phẫu thuật: máy tán sỏi Swiss LithoClast Master, bộ nong và ống nhựa Amplatz, máy C-arm kiểm soát đường vào thận; quy trình vô cảm (mê nội khí quản hoặc tê vùng), tư thế bệnh nhân nằm sấp có độn thắt lưng, kỹ thuật chọc dò chọn lọc đài thận và tạo đường hầm.
  • Chuẩn hóa quy trình đo lường các chỉ số xét nghiệm: nồng độ creatinin máu, công thức máu (HC, Hb, Hct), điện giải đồ máu ($Na^+$), phân tích nước tiểu trước và sau mổ.
  • Mô tả quy trình ghi hình xạ hình thận động với máy Gamma Camera sử dụng Tc99m-DTPA tại Khoa Y học hạt nhân: đo lường các chỉ số tưới máu thận tương đối (RP), mức lọc cầu thận (GFR tính bằng ml/phút theo phương pháp Gates), tỷ lệ chức năng thận tương đối (RF tính bằng %), thời gian đạt hoạt độ đỉnh ($T_{max}$) và thời gian bán thải ($T_{1/2}$) tại 3 thời điểm: trước mổ, sau mổ 1 tháng và sau mổ $\ge$ 3 tháng.
  • Xác định tiêu chuẩn đánh giá sạch sỏi (sạch hoàn toàn hoặc còn mảnh sỏi vụn không có ý nghĩa lâm sàng - CIRFs $\le$ 4mm không gây tắc nghẽn). Quy định việc theo dõi và xếp loại tai biến, biến chứng theo Clavien - Dindo.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu thực chứng thu thập được thông qua hệ thống bảng và biểu đồ:

  • Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Phân bố tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), các chỉ số huyết học, sinh hóa máu và cấy vi khuẩn nước tiểu trước mổ. Mô tả đặc điểm sỏi: phân loại kích thước, diện tích bề mặt, độ cản quang, mức độ ứ nước của thận, phân loại sỏi theo thang điểm GSS (từ GSS I đến GSS IV), đặc điểm sỏi chồng hình trên phim KUB và sự phân bố vào các đài nhỏ.
  • Kết quả phẫu thuật và sạch sỏi: Thống kê vị trí đài thận được chọn chọc dò tạo đường hầm (ưu tiên nhóm đài dưới); đánh giá tỷ lệ sạch sỏi theo tiêu chuẩn nghiên cứu; các biện pháp điều trị can thiệp bổ sung (tán sỏi ngoài cơ thể, nội soi tán sỏi ngược dòng).
  • Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị: Phân tích mối liên quan giữa kích thước sỏi, diện tích bề mặt sỏi, phân loại GSS, số lượng sỏi, độ cản quang, tiền sử mổ mở cùng bên với tỷ lệ sạch sỏi; phân tích lượng dịch rửa và mức độ thay đổi nồng độ Hemoglobin máu theo kích thước sỏi; khảo sát tương quan giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) với thời gian phẫu thuật, mức độ tụt giảm Hb và nồng độ $Na^+$ máu; xác định mối liên hệ giữa xét nghiệm nitrit niệu, vi khuẩn niệu trước mổ, thời gian phẫu thuật kéo dài với biến chứng sốt sau mổ; đánh giá tác động của số đường hầm tạo vào thận và kích thước ống Amplatz đối với mức độ mất máu (thay đổi Hb).
  • Tai biến, biến chứng: Thống kê chi tiết các tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ (chảy máu, thủng đài bể thận, tụ dịch sau phúc mạc, hấp thu dịch rửa, sốt sau mổ), xếp loại cụ thể theo bảng phân loại Clavien - Dindo.
  • Thay đổi chức năng thận:
    • So sánh nồng độ creatinin máu trước mổ và ngày thứ nhất sau mổ; sự thay đổi nồng độ các chất điện giải ($Na^+$).
    • So sánh nồng độ creatinin máu, mức độ ứ nước và chức năng bài tiết trên phim UIV trước mổ và sau mổ 1 tháng.
    • So sánh các thông số xạ hình thận Tc99m-DTPA trước mổ và sau mổ 1 tháng: biến thiên mức lọc cầu thận GFR của thận can thiệp, tưới máu tương đối (RP), tỷ lệ chức năng tương đối (RF), sự cải thiện của $T_{max}$ và $T_{1/2}$.
    • Phân tích tương quan giữa số lượng đường hầm vào thận, kích thước ống Amplatz với mức độ thay đổi chức năng thận trên xạ hình.
    • Đánh giá sự hồi phục chức năng thận tại thời điểm $\ge$ 3 tháng sau mổ qua creatinin máu và các thông số xạ hình thận.
    • Phân tích chuyên biệt sự biến đổi chức năng thận ở nhóm bệnh nhân có thận đơn độc chức năng ở ngày thứ nhất và sau mổ 1 tháng.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 đối chiếu các phát hiện thực tế của luận án với các nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân sỏi thận > 2cm tại Việt Nam, lý giải nguyên nhân tỷ lệ sỏi phức tạp, sỏi san hô và tiền sử mổ mở còn cao.
  • Phân tích kỹ thuật chọc dò đài thận dưới hướng dẫn C-arm: tính ưu việt của việc lựa chọn đài dưới (đài 2 hướng ra sau) giúp trục đường hầm thẳng hàng với bể thận và khúc nối bể thận - niệu quản, giảm thiểu tổn thương nhu mô và mạch máu lớn theo đúng nguyên lý của Brodel và Smith A.
  • Bàn luận về tỷ lệ sạch sỏi, làm rõ sự không đồng nhất trong định nghĩa "sạch sỏi" giữa các nghiên cứu trên PubMed (như ghi nhận của Bryniarski P.); phân tích giá trị tiên lượng của thang điểm Guy's Stone Score (GSS) đối với khả năng sạch sỏi và nhu cầu can thiệp bổ sung.
  • Bàn luận về tai biến mất máu và biến chứng tụt Hemoglobin: phân tích vai trò của số lượng đường hầm, kích thước ống Amplatz, hiện tượng hấp thu dịch rửa (tương quan giữa thời gian mổ, thể tích dịch rửa NaCl 0,9% với biến động $Na^+$ máu). Bàn luận về biến chứng nhiễm trùng, sốt sau mổ liên quan đến tình trạng nhiễm khuẩn niệu tiềm ẩn và thời gian mổ kéo dài; phân tích các trường hợp biến chứng theo Clavien - Dindo và so sánh với dữ liệu quốc tế của CROES (de la Rosette J.) và Seitz C.
  • Đánh giá sâu sắc về sự biến đổi chức năng thận: Luận giải hiện tượng suy giảm chức năng thận thoáng qua ở ngày thứ nhất sau mổ là do tình trạng co thắt mạch thận cấp tính và phù nề nhu mô quanh đường hầm như thực nghiệm của Handa R. đã chứng minh. Khẳng định ở thời điểm sau mổ 1 tháng và $\ge$ 3 tháng, khi tình trạng tắc nghẽn được giải phóng, chức năng thận can thiệp (GFR trên xạ hình Tc99m-DTPA) không những không bị suy giảm vĩnh viễn mà còn có xu hướng hồi phục rõ rệt. Luận giải mức độ an toàn khi thực hiện phẫu thuật trên nhóm bệnh nhân có thận đơn độc chức năng.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận khoa học

  1. Luận án đã hệ thống hóa và chứng minh tính đúng đắn của việc ứng dụng các nguyên lý giải phẫu định khu học đài bể thận trong phẫu thuật lấy sỏi thận qua da: việc xác định diện vô mạch Brodel, góc nghiêng sau thận dưới 30° và nguyên tắc chọc dò xuyên qua đỉnh nhú của đài thứ 2 (thuộc nhóm đài dưới) là cơ sở giải phẫu học cốt lõi giúp hạn chế tổn thương các nhánh động mạch phân thùy và động mạch gian thùy.
  2. Công trình là một trong những nghiên cứu lâm sàng đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng kỹ thuật xạ hình thận động với dược chất phóng xạ Tc99m-DTPA theo phương pháp Gates để định lượng độc lập mức lọc cầu thận (GFR), tưới máu tương đối (RP) và thời gian bài xuất ($T_{max}$, $T_{1/2}$) của riêng bên thận can thiệp trước và sau mổ lấy sỏi qua da ở nhiều mốc thời gian (1 ngày, 1 tháng, $\ge$ 3 tháng). Điều này cung cấp bằng chứng lý luận thực chứng bác bỏ định kiến cho rằng việc tạo đường hầm qua da (Amplatz 26F - 30F) gây suy thoái chức năng thận vĩnh viễn, khẳng định tổn thương nhu mô chỉ mang tính chất khu trú và chức năng bài tiết của thận phục hồi sau khi giải phóng bế tắc.
  3. Luận án đã kiểm chứng và khẳng định giá trị tiên lượng của thang điểm Guy's Stone Score (GSS) đối với kết quả sạch sỏi trên quần thể bệnh nhân sỏi thận kích thước lớn tại Việt Nam, đồng thời chuẩn hóa việc báo cáo tai biến biến chứng phẫu thuật theo phân loại Clavien - Dindo phù hợp với khuyến cáo của Hiệp hội Tiết niệu châu Âu (EAU).

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng và kiến nghị

  1. Xác lập quy trình chẩn đoán, chuẩn bị trước mổ và kỹ thuật can thiệp lấy sỏi thận qua da đối với sỏi kích thước > 2cm an toàn tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: ưu tiên sử dụng 1 đường hầm chọc qua nhú đài dưới, sử dụng năng lượng tán sỏi khí nén kết hợp siêu âm và hút (Swiss LithoClast Master), sử dụng dịch rửa natri clorid 0,9% đẳng trương.
  2. Xác định các yếu tố nguy cơ dẫn đến biến chứng và sỏi sót:
    • Kích thước sỏi, diện tích bề mặt sỏi lớn, sỏi san hô và điểm GSS cao (độ III, độ IV) làm giảm tỷ lệ sạch sỏi một thì, làm tăng nhu cầu phối hợp tán sỏi ngoài cơ thể hoặc nội soi tán sỏi bổ sung.
    • Thời gian phẫu thuật kéo dài và lượng dịch rửa sử dụng lớn có tương quan thuận với mức độ hạ nồng độ natri máu và giảm nồng độ hemoglobin sau mổ.
    • Tình trạng cấy khuẩn nước tiểu dương tính và nitrit niệu trước mổ là yếu tố nguy cơ trực tiếp gây sốt và hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) sau mổ, đòi hỏi phải điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ trước can thiệp.
  3. Chứng minh tính khả thi và an toàn của phương pháp lấy sỏi thận qua da trên nhóm bệnh nhân đặc thù có thận đơn độc chức năng mắc sỏi lớn hơn 2cm, với chức năng thận được bảo tồn và cải thiện sau mổ nếu kiểm soát tốt kỹ thuật tạo đường hầm.
  4. Kiến nghị thực tiễn: Cần áp dụng thang điểm GSS trong lượng giá trước mổ để tư vấn cho người bệnh về khả năng can thiệp bổ sung; kiểm soát áp lực dịch rửa và thời gian mổ dưới 90 - 120 phút; chỉ định xạ hình thận Tc99m-DTPA ở thời điểm 1 tháng sau mổ để đánh giá chính xác sự phục hồi chức năng của thận can thiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án được thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật tiết niệu tuyến cuối (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) với đội ngũ phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm và trang thiết bị chuyên sâu đồng bộ (máy C-arm, máy tán sỏi Swiss LithoClast Master, hệ thống máy xạ hình SPECT/Gamma Camera với Tc99m-DTPA), do đó kết quả về tỷ lệ tai biến thấp và hiệu quả sạch sỏi có thể khó đạt được tương đương tại các cơ sở y tế tuyến dưới thiếu thốn phương tiện. Số lượng bệnh nhân trong phân nhóm thận đơn độc chức năng và số bệnh nhân theo dõi được chức năng thận dài hạn ở mốc $\ge$ 3 tháng còn hạn chế do đặc điểm bệnh nhân ngoại tỉnh khó tái khám đầy đủ theo hẹn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn; mở rộng thời gian theo dõi chức năng thận bằng xạ hình sau 1 - 3 năm; nghiên cứu so sánh đối đầu giữa phương pháp lấy sỏi qua da tiêu chuẩn (standard PCNL) với phương pháp lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ (mini-PCNL) trong điều trị sỏi lớn hơn 2cm nhằm xác định kích thước đường hầm tối ưu cân bằng giữa tỷ lệ sạch sỏi và mức độ bảo tồn nhu mô thận.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị trong các lĩnh vực:

  • Đối với phẫu thuật viên Tiết niệu và Ngoại khoa: Cung cấp bản hướng dẫn giải phẫu ứng dụng chi tiết, phân tích rõ tọa độ chọc dò qua nhú đài thận mặt sau để tránh các mạch máu lớn và đại tràng; cung cấp kinh nghiệm kiểm soát dịch rửa đẳng trương NaCl 0,9% và các biện pháp xử trí biến chứng chảy máu (kẹp dẫn lưu thận, nút mạch can thiệp).
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Tiết niệu và Y học hạt nhân: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu can thiệp kết hợp cận lâm sàng hiện đại, quy trình ứng dụng xạ hình thận Tc99m-DTPA để đo GFR riêng rẽ từng thận theo phương pháp Gates cải biên, và phương pháp lượng hóa độ phức tạp của sỏi (GSS, S-ReSC) cùng phân loại biến chứng theo Clavien - Dindo.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và xây dựng phác đồ điều trị: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn tại Việt Nam ủng hộ việc đưa phương pháp lấy sỏi thận qua da trở thành ch