Tổng quan luận án

Gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi (VMCXĐ) là loại gãy ngoài bao khớp ở đầu trên xương đùi, bao gồm gãy liên mấu chuyển (LMC) và gãy dưới mấu chuyển (DMC). Đây là một dạng thương tổn phổ biến ở người cao tuổi, thường xuất hiện sau các chấn thương có mức độ năng lượng thấp như tai nạn sinh hoạt trên nền xương thưa loãng. Các tổn thương vùng này có tính chất phức tạp do xương thường gãy thành nhiều mảnh rời và di lệch theo nhiều hướng khác nhau trong không gian.

Trong thực hành chẩn đoán hình ảnh truyền thống, việc phân loại tổn thương chủ yếu dựa trên phim chụp X-quang quy ước ở hai bình diện thẳng và nghiêng (theo các thang phân loại như Evans, Jensen hay AO). Tuy nhiên, phương pháp X-quang quy ước bộc lộ hạn chế lớn do hiện tượng chồng hình cấu trúc giải phẫu, dẫn đến việc bỏ sót các mảnh gãy vụn ở phía sau hoặc không đánh giá chính xác độ toàn vẹn của thành bên ngoài mấu chuyển. Về phương diện điều trị, phương pháp điều trị bảo tồn (bó bột chống xoay, kéo liên tục) tiềm ẩn nhiều biến chứng do bất động lâu ngày. Các phương tiện kết hợp xương (KHX) bên trong kinh điển như nẹp gấp góc, nẹp vít nén ép trượt (DHS) hay đinh nội tủy (PFNA, Gamma) khi áp dụng trên các trường hợp gãy không vững hoặc xương loãng nặng vẫn ghi nhận tỷ lệ biến chứng cơ học nhất định. Nẹp khóa đầu trên xương đùi là dụng cụ kết hợp xương có cơ chế khóa ren tạo góc cố định, hạn chế tì ép lên màng xương và phân tán lực tải cơ học, song việc khảo sát hình thái tổn thương chi tiết trên phim cắt lớp vi tính (CLVT) gắn liền với kết quả phẫu thuật nẹp khóa vẫn cần được nghiên cứu toàn diện.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Nhận xét đặc điểm tổn thương gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi trên phim chụp X quang quy ước và trên phim chụp cắt lớp vi tính.
  2. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi bằng kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng: Gồm 101 bệnh nhân được chẩn đoán gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi do chấn thương và được điều trị phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp khóa đầu trên xương đùi.
  • Không gian: Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên.
  • Thời gian: Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các cơ sở giải phẫu học, sinh cơ học, các bảng phân loại hình thái tổn thương và các phương pháp can thiệp ngoại khoa từ y văn trong nước và quốc tế.

Về giải phẫu và cấu trúc bè xương vùng đầu trên xương đùi, tác giả điểm lại mô tả cổ điển của Ward (1838) về năm hệ thống bè xương chịu lực (hệ thống chịu lực nén ép chính hình quạt xuất phát từ cung Adam, hệ thống chịu lực căng giãn chính hình vòm, bè căng giãn phụ, bè nén ép phụ và bè khối mấu chuyển lớn). Đánh giá chất lượng xương dựa trên phân độ 6 mức của Singh (1970) trên phim X-quang quy ước. Về đánh giá nguy cơ phẫu thuật toàn thân, tác giả sử dụng thang điểm phân loại từ ASA 1 đến ASA 5 của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ.

Về phân loại tổn thương gãy vùng mấu chuyển xương đùi, luận án hệ thống hóa các bảng phân loại:

  • Phân loại Evans (1949): Chia thành Loại 1 (nhóm I, II là gãy vững; nhóm III, IV là gãy không vững) và Loại 2 (gãy có đường gãy đảo ngược).
  • Phân loại Jensen (1980): Cải tiến dựa trên Evans thành Loại I (Ia, Ib), Loại II và Loại III (gãy 4 phần).
  • Phân loại của Hiệp hội Kết hợp xương AO (1990, 2018): Mã hóa nhóm gãy A gồm A1 (gãy đơn giản 2 phần), A2 (gãy nhiều mảnh rời thành trong) và A3 (đường gãy chéo nghịch hoặc gãy ngang dưới mấu chuyển).
  • Phân loại trên phim cắt lớp vi tính của Etsuo S. và cộng sự (2017): Phân chia cấu trúc gãy dựa trên 4 thành phần giải phẫu độc lập gồm Chỏm (Head - H), Mấu chuyển lớn (Greater trochanter - G), Mấu chuyển bé (Lesser trochanter - L) và Thân xương đùi (Shaft - S), xác định các kiểu gãy 2 phần, 3 phần hoặc 4 phần.
  • Đánh giá thành ngoài xương đùi: Trích dẫn nghiên cứu của Hsu và cộng sự xác định độ dày thành ngoài dưới 20,5 mm là yếu tố nguy cơ dẫn đến vỡ thành ngoài thứ phát sau kết hợp xương bằng nẹp DHS.

Về các phương pháp can thiệp ngoại khoa, luận án phân tích:

  • Nẹp góc 95°: Báo cáo của Suriyajakyuthana (2004) trên 69 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển.
  • Nẹp vít trượt DHS: Báo cáo của Nguyễn Việt Nam (2013) trên 47 bệnh nhân; các nghiên cứu ghi nhận biến chứng gãy thành ngoài trong mổ và di lệch thứ phát ở các thể gãy không vững A2.3.
  • Đinh nội tủy (Gamma, PFNA, InterTan): Báo cáo của Đặng Hoàng Anh và Nguyễn Đăng Long (2013) trên 34 bệnh nhân tại Bệnh viện Quân y 103; phân tích tổng hợp của Parker và Handoll so sánh đinh nội tủy và các phương tiện kết xương khác.
  • Phẫu thuật thay khớp háng: Đánh giá chỉ định thay khớp bán phần Bipolar ở bệnh nhân cao tuổi, loãng xương nặng hoặc thất bại kết hợp xương.
  • Khung cố định ngoài: Áp dụng ở bệnh nhân nguy cơ cao (ASA 3, 4) với các nghiên cứu can thiệp tối thiểu.
  • Nẹp khóa đầu trên xương đùi: Các nghiên cứu quốc tế của Zha G. và cộng sự (2011), Jambu N.W (2014), Harinda H. (2017); các nghiên cứu tại Việt Nam của Nguyễn Năng Giỏi và Nguyễn Văn Lượng (2014) trên 30 bệnh nhân, Đoàn Mạnh Linh (2017) trên 41 bệnh nhân tại Bệnh viện Quân y 103, và Trần Hữu Hiếu (2021) trên 62 bệnh nhân.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án: Mặc dù nẹp khóa đã được ứng dụng trong điều trị gãy vùng mấu chuyển xương đùi, các công trình trước đây tại Việt Nam chưa tiến hành đối chiếu có hệ thống giữa hình ảnh X-quang quy ước và phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy có dựng hình 3D trong việc phân loại chi tiết các thành phần tổn thương giải phẫu (đặc biệt là thành bên ngoài và mấu chuyển lớn), đồng thời chưa phân tích sâu kết quả điều trị của nẹp khóa dựa trên các phân nhóm tổn thương xác định qua cắt lớp vi tính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và nguyên lý sinh cơ học

Luận án vận dụng các nguyên lý kết hợp xương bên trong của AO kết hợp với đặc tính cơ sinh học của nẹp khóa:

  • Nẹp khóa đầu trên xương đùi hoạt động như một khung cố định ngoài đặt dưới da; mũ vít có ren ăn khớp tuyệt đối với lỗ ren trên thân nẹp, cố định các góc định sẵn mà không phụ thuộc vào lực ma sát tì ép giữa nẹp và màng xương. Thiết kế này giúp bảo tồn hệ thống tuần hoàn màng xương, tạo môi trường sinh học cho quá trình liền xương kỳ hai.
  • Cấu tạo giải phẫu của nẹp khóa: Chế tạo từ thép không gỉ 316L hoặc hợp kim Titan, uốn cong ôm sát mặt ngoài đầu trên xương đùi. Đầu gần của nẹp có 3 lỗ vít tạo góc cố định với trục thân xương:
    • Vít thứ nhất (đường kính 7,3 mm): tạo góc 95°
    • Vít thứ hai (đường kính 7,3 mm): tạo góc 120°
    • Vít thứ ba (đường kính 5,0 mm): tạo góc 135° (đi song song với bờ dưới cổ xương đùi dọc theo cung calcar)
  • Hệ thống đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng: Sử dụng phân độ loãng xương Singh (độ I đến VI), thang điểm phân loại sức khỏe gây mê ASA (mức I đến V), phân loại AO trên X-quang và phân loại Etsuo trên CLVT; đánh giá chức năng khớp háng theo thang điểm Harris.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc có can thiệp ngoại khoa.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu:
    • Cỡ mẫu cho mục tiêu 1 (khảo sát hình thái tổn thương X-quang và CLVT): Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ $n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$, với độ tin cậy 95% ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), tỷ lệ dự kiến phù hợp $p = 0,75$, khoảng sai số $d = 0,09$, cho ra cỡ mẫu tối thiểu $n = 89$ bệnh nhân.
    • Cỡ mẫu cho mục tiêu 2 (đánh giá kết quả điều trị ngoại khoa): Áp dụng công thức ước lượng tỷ lệ với $p = 0,88$ (tỷ lệ kết quả tốt và rất tốt theo y văn), $d = 0,09$, cho ra cỡ mẫu tối thiểu $n = 51$ bệnh nhân.
    • Mẫu nghiên cứu thực tế được thu thập gồm 101 bệnh nhân, đáp ứng yêu cầu thống kê cho cả hai mục tiêu.

Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ

  • Tiêu chuẩn lựa chọn cho mục tiêu 1: Bệnh nhân gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi, có đầy đủ phim X-quang thẳng/nghiêng và phim CLVT đa bình diện (Axial, Coronal, Sagital) có dựng hình 3D.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn cho mục tiêu 2: Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên; gãy kín loại A1, A2, A3 theo AO (xác định trên CLVT); loãng xương từ độ II đến độ VI theo Singh; phân loại ASA từ I đến IV; chi thể gãy trước chấn thương vận động bình thường; đồng ý phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp khóa.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân dưới 18 tuổi; gãy xương bệnh lý; gãy kèm trật khớp háng hoặc vỡ chỏm xương đùi; loãng xương độ I (loãng xương rất nặng); biến dạng hoặc di chứng chấn thương cũ tại chi gãy; nhiễm trùng tại chỗ vùng mổ; tình trạng toàn thân chuyển nặng sang ASA V-VI; bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu

  • Chẩn đoán hình ảnh: Chụp X-quang quy ước khung chậu và đầu trên xương đùi hai tư thế thẳng, nghiêng. Chụp CLVT 64 dãy (Siemens), lát cắt mỏng, dựng hình 2D đa bình diện và tái tạo 3D.
  • Kỹ thuật mổ: Bệnh nhân nằm trên bàn chỉnh hình, nắn chỉnh ổ gãy dưới sự kiểm soát của màn tăng sáng C-arm. Bộc lộ mặt ngoài mấu chuyển lớn, luồn nẹp khóa hoặc mổ mở kinh điển, định vị kim Kirschner dẫn đường và tiến hành bắt 3 vít chốt đầu gần ôm vào khối cổ chỏm, sau đó bắt các vít khóa thân xương.
  • Quá trình theo dõi và biến thiên chỉ tiêu: Đánh giá nắn chỉnh giải phẫu, thời gian phẫu thuật, phục hồi góc cổ thân, biên độ vận động khớp gối, thang điểm Harris, tỷ lệ liền xương và các biến chứng (ngắn chi, lỏng vít, gãy vít, bung nẹp, sụp lún vẹo trong).
  • Phân tích số liệu: Ứng dụng các thuật toán thống kê y sinh học để so sánh tỷ lệ phù hợp chẩn đoán giữa X-quang và CLVT, kiểm định mối liên quan giữa các yếu tố giải phẫu tổn thương với kết quả phục hồi chức năng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này tập trung trình bày tổng quan cơ sở lý luận giải phẫu, bệnh học và các phương thức can thiệp điều trị:

  • Giải phẫu học và mạch máu nuôi dưỡng: Đầu trên xương đùi gồm chỏm, cổ giải phẫu, mấu chuyển lớn và mấu chuyển bé. Trục cổ tạo với thân xương góc nghiêng (góc cổ thân) trung bình khoảng 130° trên bình diện đứng ngang và góc xiên ngả trước khoảng 20-30° trên bình diện đứng dọc. Vùng mấu chuyển được cấp máu phong phú từ động mạch mũ đùi ngoài, động mạch mũ đùi trong và các nhánh xiên của động mạch thân xương đùi, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình liền xương nếu được cố định cơ học vững chắc.
  • Cơ chế chấn thương và các yếu tố nguy cơ: Lực tải tác động lên khớp háng khi đứng một chân gấp khoảng 2,5 lần trọng lượng cơ thể với hướng véc-tơ tạo góc 159° so với trục thẳng đứng. Sau 50 tuổi, tỷ lệ gãy xương tăng gấp 1,5 lần sau mỗi 5 năm do tình trạng suy giảm mật độ khoáng xương (loãng xương) và suy giảm phản xạ vận động.
  • Hệ thống phân loại tổn thương: Phân tích chi tiết các hệ thống phân loại của Evans, Jensen, AO. Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch và bỏ sót tổn thương khi chỉ sử dụng X-quang quy ước do hiện tượng chồng hình. Giới thiệu phân loại 4 phần của Etsuo trên phim CLVT (H, G, L, S) và vai trò của việc đánh giá tính toàn vẹn của thành bên ngoài.
  • Các phương pháp phẫu thuật: Tổng kết ưu và nhược điểm của các dụng cụ kết xương kinh điển (nẹp góc, nẹp DHS, đinh Gamma, PFNA), phẫu thuật thay khớp háng, khung cố định ngoài và nguyên lý cố định sinh học của nẹp khóa đầu trên xương đùi.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu lâm sàng:

  • Đối tượng nghiên cứu gồm 101 bệnh nhân gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi được thu thập từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2020 tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên.
  • Trình bày công thức tính cỡ mẫu đại diện cho nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh ($n=89$) và nghiên cứu can thiệp ngoại khoa ($n=51$), khẳng định cỡ mẫu thực tế 101 bệnh nhân bảo đảm độ tin cậy thống kê.
  • Quy trình can thiệp phẫu thuật: Mô tả tư thế bệnh nhân trên bàn nắn chỉnh xương, kỹ thuật kiểm tra màn tăng sáng C-arm trong mổ, đường rạch da mặt ngoài mấu chuyển lớn, thì khoan dẫn đường bằng đinh Kirschner, kỹ thuật bắt 3 vít chốt cổ chỏm ở các góc 95°, 120°, 135° và kỹ thuật cố định thân xương bằng nẹp khóa.
  • Phác đồ điều trị hậu phẫu và tập phục hồi chức năng: Hướng dẫn vận động thụ động khớp háng và khớp gối sớm sau mổ, kiểm soát mức độ chịu lực tì đè tăng dần dựa trên tiến trình hình thành can xương trên phim kiểm tra X-quang định kỳ.
  • Quy chuẩn đánh giá sai lệch, tính pháp lý và đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương này tổng hợp các số liệu thực nghiệm thu được từ 101 bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm nhóm nghiên cứu: Phân bố theo độ tuổi, giới tính, nguyên nhân gây chấn thương (chủ yếu do tai nạn sinh hoạt ở người cao tuổi), phân loại mức độ loãng xương theo Singh và các bệnh nội khoa mạn tính kết hợp (phân nhóm ASA).
  • Đặc điểm hình thái tổn thương trên X-quang và CLVT:
    • Đối chiếu kết quả phân loại gãy xương theo AO và số phần gãy theo phân loại Etsuo trên hình ảnh X-quang so với CLVT.
    • Thống kê chi tiết các vị trí đường gãy: tổn thương đường gãy phía trước, phía sau, mấu chuyển lớn, mấu chuyển bé và tình trạng vỡ rời thành bên ngoài.
    • Phân tích mối liên quan giữa phân loại Etsuo trên CLVT với độ tuổi, mức độ loãng xương Singh, đường gãy thành ngoài và mảnh rời phía sau trong.
    • Tỷ lệ phù hợp trong chẩn đoán thể gãy AO và tổn thương thành ngoài giữa phim X-quang quy ước và phim cắt lớp vi tính.
  • Kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa:
    • Thời gian phẫu thuật trung bình, phương thức phẫu thuật (mổ mở kết hợp nắn chỉnh giải phẫu hoặc mổ ít xâm lấn luồn nẹp).
    • Đánh giá kết quả nắn chỉnh giải phẫu ổ gãy và kết quả phục hồi góc cổ thân xương đùi trên phim X-quang sau mổ.
    • Kết quả theo dõi xa: Thời gian liền xương trung bình, sự duy trì góc cổ thân qua các mốc thời gian kiểm tra.
    • Đánh giá biên độ vận động khớp gối và chức năng khớp háng theo thang điểm Harris tại thời điểm thăm khám cuối cùng.
    • Phân tích các mối liên quan giữa điểm chức năng Harris, ngắn chi và biến chứng lỏng/gãy vít với mức độ loãng xương, số phần gãy và tổn thương thành ngoài.

Chương 4: Bàn luận

Chương này đi sâu phân tích và so sánh các kết quả nghiên cứu với y văn:

  • Giá trị của chụp cắt lớp vi tính so với X-quang quy ước: Bàn luận về sự khác biệt trong phân loại AO và số lượng mảnh rời giữa hai phương pháp. Khẳng định chụp CLVT tái tạo 3D làm rõ các tổn thương thành ngoài và mảnh rời sau trong mà X-quang thường bỏ sót, giúp phẫu thuật viên thay đổi chiến lược cố định xương.
  • Chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật nẹp khóa: Bàn luận về ưu điểm của hệ thống vít khóa 3 góc (95°, 120°, 135°) trong việc neo giữ khối cổ chỏm vững chắc, ngăn ngừa biến chứng cắt vít qua chỏm (cut-out) hay trồi nẹp ở bệnh nhân loãng xương.
  • Phục hồi chức năng và các yếu tố ảnh hưởng: Bàn luận về mức độ cải thiện điểm Harris sau mổ, ảnh hưởng của tình trạng mất vững thành ngoài và gãy nhiều mảnh đến thời gian liền xương; sự cần thiết của việc hạn chế chịu lực tì đè sớm cho đến khi có bằng chứng can xương vững trên X-quang nhằm phòng ngừa gãy vít hoặc gục cổ xương đùi.
  • Phân tích những mặt hạn chế trong thiết kế nghiên cứu của đề tài.
Nhóm nội dung khảo sát Thông số và tiêu chí ghi nhận trong luận án
Chẩn đoán hình ảnh Phim X-quang quy ước thẳng/nghiêng; Phim CLVT 64 dãy dựng hình Coronal, Sagital, Axial và tái tạo 3D
Phân loại thương tổn Phân loại Evans (1949), Jensen (1980), AO (1990/2018); Phân loại Etsuo (2017) theo 4 phần giải phẫu (H, G, L, S)
Phương tiện kết hợp xương Nẹp khóa đầu trên xương đùi (thép 316L hoặc Titan); 3 vít chốt đầu gần góc 95°, 120°, 135°
Thang đo lâm sàng Chỉ số loãng xương Singh (độ I-VI); Thang điểm ASA (độ 1-5); Thang điểm chức năng khớp háng Harris

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt chẩn đoán và phân loại tổn thương:
  • Luận án đã chỉ rõ giá trị của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính đa dãy có dựng hình 3D trong chẩn đoán gãy vùng mấu chuyển xương đùi so với chụp X-quang quy ước. CLVT giúp phát hiện chính xác số lượng mảnh gãy, đường gãy dọc thành bên ngoài và các mảnh rời lớn ở thành sau trong vốn thường bị che lấp do hiện tượng chồng hình trên phim X-quang.
  • Cung cấp dẫn liệu thực tế về sự sai khác trong phân loại độ vững ổ gãy giữa X-quang và CLVT, hỗ trợ việc phân loại chính xác các kiểu gãy theo AO và theo hệ thống phân loại 4 phần của Etsuo.
  1. Đóng góp về mặt điều trị ngoại khoa:
  • Đánh giá hiệu quả lâm sàng của phương pháp kết hợp xương bằng nẹp khóa đầu trên xương đùi ở bệnh nhân gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi, đặc biệt trên các đối tượng người cao tuổi có loãng xương và gãy nhiều mảnh không vững.
  • Chứng minh nẹp khóa với thiết kế 3 vít cố định góc ở đầu gần (95°, 120°, 135°) giúp duy trì góc cổ thân ổn định, đảm bảo tính vững chắc về mặt cơ sinh học, giảm thiểu biến chứng cắt xương thủng chỏm và lỏng nẹp.
  • Đưa ra khuyến nghị lâm sàng về kỹ thuật đặt nẹp ôm sát đỉnh mấu chuyển lớn, tuân thủ nguyên tắc bảo tồn sinh học và kiểm soát tiến trình tập phục hồi chức năng chịu lực nhằm tránh nguy cơ gãy dụng cụ kết xương ở các trường hợp có tổn thương mất vững thành ngoài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Đề tài được thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật duy nhất (Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên), cỡ mẫu dừng ở 101 bệnh nhân.
  • Việc đánh giá mật độ khoáng xương trong nghiên cứu chủ yếu dựa vào chỉ số Singh trên phim X-quang quy ước mà chưa tiến hành đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA) đồng bộ cho toàn bộ mẫu nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để theo dõi kết quả cơ sinh học và chức năng khớp háng trong thời gian dài hơn.
  • Ứng dụng thường quy quy trình chụp CLVT dựng hình 3D trước mổ để tối ưu hóa việc lựa chọn giữa kỹ thuật mổ mở kinh điển và kỹ thuật luồn nẹp ít xâm lấn (MIPO) dựa trên mức độ toàn vẹn của thành bên ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị thực tiễn cho nhiều đối tượng chuyên môn:

  • Bác sĩ chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình: Tham khảo kinh nghiệm đọc tổn thương giải phẫu trên phim CLVT đa dãy, nhận định nguy cơ mất vững thành ngoài và kỹ thuật chuẩn hóa thao tác bắt 3 vít góc đầu gần của nẹp khóa.
  • Bác sĩ Phục hồi chức năng và Gây mê hồi sức: Tham khảo quy trình phân loại nguy cơ toàn thân ASA và lộ trình tập vận động, chịu lực tì đè phù hợp theo từng giai đoạn liền xương.
  • Giảng viên và học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại khoa: Sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên khảo về giải phẫu học, sinh cơ học khớp háng và tổng quan các phương pháp kết hợp xương đầu trên xương đùi.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc các bè xương vùng đầu trên xương đùi theo mô tả của Ward gồm những hệ thống nào? Theo Ward (1838), đầu trên xương đùi gồm hai hệ thống chính và ba hệ thống phụ:

  • Bè xương chịu lực nén ép chính (bè hình quạt/cung Adam) đi từ bờ dưới trong nền cổ tỏa lên sụn chỏm.
  • Bè xương chịu lực căng giãn chính (bè hình vòm) chạy từ vỏ ngoài qua mấu chuyển lớn dọc phần trên cổ.
  • Bè căng giãn phụ bắt đầu từ vỏ ngoài dưới bè căng giãn chính vào giữa cổ.
  • Bè nén ép phụ từ vỏ xương mấu chuyển bé hướng đến mấu chuyển lớn.
  • Bè xương khối mấu chuyển lớn tỏa lên từ thành xương.

2. Ba vít chốt đầu gần của nẹp khóa đầu trên xương đùi được bố trí theo các góc nào? Ba lỗ vít đầu gần của nẹp khóa được thiết kế tạo với thân xương các góc cố định định sẵn:

  • Lỗ thứ nhất (đường kính 7,3 mm): góc 95°
  • Lỗ thứ hai (đường kính 7,3 mm): góc 120°
  • Lỗ thứ ba (đường kính 5,0 mm): góc 135° (hướng đi dọc theo bờ dưới cổ xương đùi)

3. Phân loại gãy vùng mấu chuyển xương đùi của Etsuo trên phim CLVT dựa trên những thành phần nào? Phân loại Etsuo (2017) dựa trên sự kết hợp của 4 phần giải phẫu chính:

  • Chỏm xương đùi (Head - H)
  • Mấu chuyển lớn (Greater trochanter - G)
  • Mấu chuyển bé (Lesser trochanter - L)
  • Thân xương đùi (Shaft - S) Dựa vào các phần này để phân loại thành kiểu gãy 2 phần, gãy 3 phần hoặc gãy 4 phần.

4. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân cho mục tiêu đánh giá kết quả điều trị (Mục tiêu 2) của luận án là gì? Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên bị gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi thuộc loại A1, A2, A3 theo AO (xác định trên CLVT); có loãng xương từ độ II đến độ VI theo Singh; phân loại sức khỏe ASA từ I đến IV; có đầy đủ phim X-quang trước/sau mổ và phim CLVT trước mổ; trước chấn thương đi lại bình thường và không có chống chỉ định vô cảm.

5. Độ dày thành ngoài xương đùi dưới ngưỡng nào được xác định là nguy cơ gãy thứ phát khi sử dụng nẹp DHS theo trích dẫn trong luận án? Theo nghiên cứu của Hsu và cộng sự được trích dẫn trong luận án, độ dày thành ngoài mấu chuyển dưới 20,5 mm là yếu tố nguy cơ dự đoán biến chứng gãy thành ngoài thứ phát sau kết hợp xương bằng nẹp DHS (với độ nhạy 82,7% và độ đặc hiệu 77,8%).

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Lê Tất Thắng đã hoàn thành việc khảo sát đặc điểm tổn thương gãy kín vùng mấu chuyển xương đùi trên phim X-quang quy ước và phim cắt lớp vi tính đa dãy dựng hình 3D, làm rõ vai trò của CLVT trong việc hạn chế bỏ sót các mảnh vỡ thành ngoài và thành sau trong. Công trình đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp khóa trên 101 bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên, xác định nẹp khóa là phương tiện cố định cơ học vững chắc, bảo tồn nguồn cấp máu màng xương và mang lại kết quả phục hồi chức năng khả quan. Các kết luận rút ra từ nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác chẩn đoán hình ảnh và chỉ định điều trị ngoại khoa chấn thương chỉnh hình đầu trên xương đùi.