CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Giới thiệu khái quát về các điều kiện tự nhiên tỉnh Bình Định [19] 1. Đặc điểm địa hình: Địa hình tỉnh Bình Định phức tạp. Phía Tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, độ cao trung bình 500-700m, kế tiếp là vùng trung du dạng phổ biến là đồi thấp xen kẽ thung lũng hẹp, độ cao trên dưới 100 m, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn.
Vùng thấp là đồng bằng duyên hải bị chia cắt nhỏ thành từng ô trũng do các thành núi chạy ra biển. Trong đồng bằng rải rác có đồi thấp xen kẽ địa hình đồng bằng nghiêng nên đất dễ bị rửa trôi, việc tưới nước định kỳ dễ gây tình trạng bạc màu và mặn hoá. Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa hai hướng sườn Đông - Tây. - Vùng núi trung bình phía Tây: Vùng núi này chiếm 70% diện tích của tỉnh, cao từ 50-70m được cấu tạo từ đá granit, bazan, phiến thạch; kéo dài theo chiều Bắc - Nam, qua các huyện Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và bị chia cắt mạnh.
Vùng Hoài Ân, Tây Sơn, Vân Canh có nhiều dãy núi cao trên 1. Tầng đất mỏng, khả năng đất nông nghiệp hạn chế nhưng rừng thì còn khá, cần tăng cường bảo vệ, tu bổ lớp phủ thực vật ở đây. - Vùng đồi: Vùng này tiếp giáp giữa miền núi phía Tây và đồng bằng phía Đông chiếm khoảng 10% diện tích, độ cao dưới 100 m.Tầng đất mỏng đến trung bình, đá lẫn nhiều và có đá lộ đầu. Thực vật nhiều nơi bị trơ trụi, đá ong phát triển, có chỗ lộ ra trên mặt đất đã bị rửa trôi mạnh trở nên xấu, chua.
Cần chú ý sử dụng hợp lý quỹ đất này để đem lại hiệu quả canh tác và bảo vệ tự nhiên. Học viên: Bùi Nguyễn Đăng Khoa – Lớp Cao học Xây dựng đường ôtô và đường thành phố K18 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật 6 GVHD: TS.Vũ Thế Sơn - Vùng đồng bằng: Đồng bằng Bình Định chiếm diện tích khá lớn (trên 15%) là loại đất có độ phì cao nhất đối với cây nông nghiệp. Đây là địa bàn cư trú phần lớn của dân cư Bình Định. Địa hình hơi nghiêng về phía Đông, bị các mạch núi chia cắt thành các ô nhỏ.
Phổ biến có thành phần cơ giới nhẹ, đất thịt nhẹ. Đây là loại đồng bằng trẻ được hình thành do tác động của sông, biển, các vận động của địa chất vào kỷ Đệ tứ. Hiện nay, nhiều vùng vẫn đang hình thành loại đồng bằng trẻ này. - Cồn cát ven biển: Cồn cát phân bố thành dải hẹp ven biển được hình thành bởi quá trình gió biển vận chuyển tích tụ.
Dạng địa hình này biến đổi nhanh và di động; thực vật thưa thớt, bởi vậy cần chú ý trồng rừng phòng hộ để cải tạo môi sinh. Do ảnh hưởng của rìa phía Đông cao Nguyên Kon Tum, nên địa hình toàn tỉnh có xu hướng nghiêng từ Tây sang Đông với độ chênh lệch khá cao (khoảng 1. Độ cao trung bình so với mặt biển là 700 m. Bề mặt địa hình thường có dạng núi cao xen lẫn thung lũng, đồng bằng lòng chảo và đầm phá ven biển.
Ảnh hưởng của phát triển kiến tạo địa chất và khí hậu đã dẫn đến tính đa dạng và phức tạp của địa hình toàn tỉnh như ngày nay. Về mặt trắc lượng hình thái có thể phân chia địa hình trong tỉnh ra thành 5 dạng chính: Địa hình núi, địa hình đồi núi xen lẫn đồng bằng, địa hình đồng bằng lòng chảo xen lẫn thung lũng, địa hình đầm phá ven biển và địa hình thềm lục địa. Vùng núi chiếm hai phần ba diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình từ 700 - 1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1. Còn lại có 13 đỉnh cao từ 700 - 1000m.
Các dãy núi liên kết với nhau chạy theo hướng Bắc - Nam. Đặc điểm của núi ở khu vực này có sườn dốc đứng, đỉnh nhọn, chúng thường bị chia cắt bởi nhiều đường phân thủy. Nhiều Học viên: Bùi Nguyễn Đăng Khoa – Lớp Cao học Xây dựng đường ôtô và đường thành phố K18 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật 7 GVHD: TS.Vũ Thế Sơn khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này cùng với các điều kiện thủy văn đã dẫn đến sự hình thành dạng bờ biển có nhiều đầm phá.
Vùng đồi núi sót xen lẫn đồng bằng bao gồm các đồng bằng bóc mòn tích tụ như: Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn (Bồng Sơn, Tam Quan) … thường có những đồi núi sót nằm rải rác không theo qui luật, độ cao trung bình khoảng 50 - 200 m. Vùng đồng bằng lòng chảo xen lẫn thung lũng là đặc điểm của tỉnh Bình Định và một số tỉnh miền Trung. Theo cấu trúc của địa hình, tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ. Tại khu vực này phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành bởi các yếu tố địa hình và khí hậu, mặc dù các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển Đông bởi các đầm phá hoặc các dãy núi.
Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng từ 25 - 50 m và chiếm diện tích khoảng 1. Tại Bình Định có đồng bằng dạng lòng chảo lớn nhất với diện tích khoảng 600 km2, còn lại là các đồng bằng rất nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông theo các dạng nón bồi tích tại các khu vực chân của các dãy núi được mở rộng. Mặc dù các loại đồng bằng trên có diện tích không lớn, độ màu mỡ của đất không cao, nhưng có vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh, đặc biệt là cây lương thực. Tuy nhiên khu vực này thường xảy ra lũ lụt rất nặng nề trong mùa mưa lũ (tháng 10 và tháng 11).
Vùng đầm phá ven biển và bờ biển được hình thành khá phổ biến trong vùng duyên hải: Do ảnh hưởng của sự phân bố các dãy núi cũng như các yếu tố khí hậu và tác động của thủy triều cùng các qui trình thủy văn - động lực khác đã tạo nên nhiều đầm phá ở vùng ven biển tỉnh Bình Định. Những đầm phá lớn như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Thị Nại và phá Công Khánh. Các đầm phá được ngăn cách với biển bởi các đồi cát hoặc các dãy núi Học viên: Bùi Nguyễn Đăng Khoa – Lớp Cao học Xây dựng đường ôtô và đường thành phố K18 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật 8 GVHD: TS.Vũ Thế Sơn thấp và trao đổi nước với biển qua một cửa rất hẹp. Dạng địa hình đầm phá sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nếu được chú ý nghiên cứu đầu tư vào việc nuôi trồng khai thác các nguồn lợi thủy hải sản.
Ngoài khu vực đầm phá, bờ biển tỉnh Bình Định có thể phân chia thành hai dạng chủ yếu: Đoạn bờ biển từ Quy Nhơn đến giáp Sông Cầu thuộc dạng bờ biển tích tụ - mài mòn đang bị san bằng; đoạn từ Quy Nhơn đến Sa Huỳnh thuộc dạng bờ biển tích tụ - mài mòn bằng phẳng đã bị san bằng. Tiếp giáp với khu vực bờ biển là vùng thềm lục địa khá rộng lớn: Độ sâu thường đạt đến 50 m khi cách bờ khoảng 10 km. Đây là khu vực có nhiều tiềm năng về khoáng sản, đặc biệt là tiềm năng về dầu mỏ và khí đốt. Tuy nhiên, với địa hình có độ dốc lớn và sâu nên việc thăm dò và khai thác có thể gặp một số hạn chế nhất định.
Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên tỉnh Bình Định có khá nhiều sông lớn nhỏ nhưng phân bố không đều, đáng kể nhất là 4 sông lớn: sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Kôn và sông Hà Thanh. Trong đó sông Kôn và sông Lại Giang có vai trò quan trọng hơn cả. Nhìn chung các sông đều có độ dốc lớn, chịu sự chi phối của mưa trên lưu vực, sự ảnh hưởng của thủy triều chỉ một phần rất nhỏ ở cửa sông, đặc tính này khác hẳn với các sông miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Vì có độ dốc lớn, lưu vực ở hạ lưu hẹp nên bị lũ gây ở thượng nguồn rất nguy hiểm, đồng thời mùa nắng gây nên sự khô cạn ở hạ lưu, giảm mực nước ngầm và tạo điều kiện cho sự xâm nhập mặn của biển.
Học viên: Bùi Nguyễn Đăng Khoa – Lớp Cao học Xây dựng đường ôtô và đường thành phố K18 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật 9 GVHD: TS. Đặc điểm về khí hậu: Tỉnh Bình Định nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình và mặt đệm biến đổi khá lớn nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều. Nếu xét tới các xu thế chủ yếu có thể phân chia chế độ gió trong năm của tỉnh có gió mùa Đông Bắc; phần phía Nam của tỉnh có gió Bắc và Tây Bắc.
Trong thời kỳ này hướng gió nói chung tương đối ổn định. Từ tháng 4 - 8 ở phần phía Bắc tỉnh có gió Nam và Tây Nam; ở phần phía Nam tỉnh chủ yếu có gió Đông Nam và gió Tây, tiếp theo là gió Tây Bắc và gió Nam. Nhiệt độ không khí trung bình năm ở khu vực miền núi biến đổi từ 20,1 - 26,10C, cực đại trung bình 25,0 - 31,70C và cực tiểu 16,5 - 22,70C. Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,00C, nhiệt độ cực đại 39,90C và cực tiểu 15,80C.
Tổng nhiệt độ năm trong tỉnh (tại Quy Nhơn) đạt 9,6360C vượt tiêu chuẩn 9,500C của khí hậu xích đạo. Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm từ 22,5 - 27,9 % và độ ẩm tương đối từ 79 - 92 % tại khu vực miền núi; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9 mb, cực đại 32,7 mb và cực tiểu 20,0 mb. Độ ẩm tương đối trung bình là 79 % và cực tiểu là 31 %. Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12.
Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài từ tháng 1 - 8. Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm từ 2. Riêng thung lũng sông Kôn từ 1.
Vùng có tổng lượng mưa trung bình năm lớn nhất là huyện An Lão (2.