CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH BÌNH PHƯỚC 1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1. Địa hình và khí hậu[1] Bình Phước là tỉnh có địa hình miền núi nằm về phía Tây của vùng Đông Nam Bộ, là miền tiếp giáp các cao nguyên ở phía Bắc và Đông Bắc bao gồm cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh và Đăk Nông. Địa hình có dạng đồi thoải thấp dần về phía Tây và Tây Nam, tại nơi giáp cao nguyên Đăk Nông và núi Sát (Bà Rá, Bà Đen) có độ cao từ 723 đến 986 m.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2.325 mm, thường diễn ra từ tháng 5-11, chiếm 85-90% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10-15% tổng lượng mưa cả năm, tháng 2-3 có lượng mưa ít nhất. Tổ chức hành chính[2] Tỉnh Bình Phước có 03 Thị xã và 07 huyện: thị xã Đồng Xoài, thị xã Bình Long, thị xã Phước Long, huyện Bù Đăng, huyện Bù Đốp, huyện Bù Gia Mập, huyện Chơn Thành, huyện Đồng Phú, huyện Hớn Quản, huyện Lộc Ninh.
Tỉnh Bình Phước có tổng cộng 111 xã, phường và thị trấn. Trung tâm hành chính, kinh tế của tỉnh đặt tại thị xã Đồng Xoài. Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước[2] 5 1. Dân số và lao động Theo số liệu Niên giám thông kê năm 2010, dân số tỉnh Bình Phước là 893.353 người, mật độ dân số 130 người/km, trong đó nam chiếm 50,47%.
Dân số và mật độ dân số năm 2010[1] Diện tích Dân số Mật độ Stt Đơn vị hành chính ( km2 ) ( người ) (người/km2 ) 1 Thị xã Đồng Xoài 167,698 84.945 507 2 Thị xã Bình Long 126,286 57.199 453 3 Thị xã Phước Long 118,839 46.543 392 4 Huyện Bù Đăng 1.646 90 5 Huyện Bù Đốp 376,492 52.003 138 6 Huyện Bù Gia Mập 1.553 91 7 Huyện Chơn Thành 389,837 67.340 142 8 Huyện Đồng Phú 936,223 86,017 92 9 Huyện Hớn Quản 664,367 94.340 142 10 Huyện Lộc Ninh 853,952 110. Diện tích và dân số của 1 số tỉnh miền Đông Nam Bộ[1] Diện tích Mật độ STT Tỉnh Dân số (km2) (người/km2) 1 Tp Hồ Chí Minh 20.419 2 Bà Rịa Vũng tàu 1.550 550 4 Bình Phước 6.513 264,6 Tính đến cuối năm 2010, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là 516.823 người trong đó làm việc cấp quản lý trung ương là 25.625 người chiếm 4,96%, theo cấp địa phương là 491.198 người chiếm 95,04%. Lao động trong khu vực I chiếm 69,6% giảm dần so với năm 2000 là 87,5% và năm 2005 là 75,8%. Phát triển các ngành 6 1.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản[1] Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và ngư nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm 6,5%, trong đó nông nghiệp đạt mức tăng trưởng 9,9% và chiếm đến 97,9% tổng giá trị sản xuất. Giá trị sản xuất của nông, lâm nghiệp và thủy sản[1] Đơn vị: tỷ đồng Tăng Năm 2006 2007 2008 2009 2010 BQ/ năm(%) Nông nghiệp 3018,9 3577,2 3869,7 4116,3 4388,9 9,9 Lâm nghiệp 20,4 19,5 20,4 22,3 24,4 4,7 Thủy sản 37,2 43,6 50,5 56,9 70,7 7,5 Tổng cộng 3076,5 3640,3 3940,6 4195,5 4484 10,0 1. Công nghiệp - xây dựng[1] Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng bình quân trong giai đoạn năm 2006-2010 đạt 21%, về cơ cấu, từ chổ chỉ chiếm 18,5% năm 2006 đã tăng lên 24,1% vào năm 2010. a) Công nghiệp Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 21%/năm.
Do công nghiệp của Tỉnh đi lên từ điểm xuất phát ban đầu rất thấp, mặc dù đạt tỷ lệ tăng trưởng bình quân rất cao nhưng khối lượng sản phẩm và giá trị sản xuất còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế phát triển của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006-2010[1] Đơn vị: tỷ đồng 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng GTSX (giá 1994) 1.300 Tốc độ tăng trưởng 18,3% 26,5% 21,3% 12,65% 26,67% Công nghiệp QD 645,57 786 736 873 840 + Trung ương 628,79 762,86 709,778 855,307 815 + Địa phương 16,78 23,34 26,11 17,749 25 7 2006 2007 2008 2009 2010 CN ngoài QD 997,61 1273,99 1741,32 1775 2030 CN có vốn ĐTNN 319,91 423,65 536,21 746,6 1430 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành chính như :Công nghiệp khai thác mỏ, Công nghiệp chế biến, Công nghiệp sản xuất, phân phối điện: Bảng 1. GTSX công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006-2010[1] Chỉ tiêu chủ yếu ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 1.Giá trị sản xuất công nghiệp Giá hiện hành Tỷ đồng 3.180 Giá cố định 1994 Tỷ đồng 1. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Hạt điều nhân Tấn 24.000 - Tinh bột sắn Tấn 74.000 - Đá xây dựng các loại 100 m3 490 529 572 548 600 Triệu - Điện phát ra 1.600 KWh - Linh kiện điện tử Bộ 496 9.246 - Bao tay BHLĐ 1000 đôi - 45.706 Năm 2010, số doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình doanh nghiệp trên toàn tỉnh có 1.
Các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp với hầu hết có quy mô nhỏ, phân tán, chưa được quy hoạch tập trung theo các khu, cụm công nghiệp. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu là hạt điều nhân, tinh bột mì, vật liệu xây dựng, đũa tre, bột giấy. b) Xây dựng Giá trị sản xuất của ngành xây dựng theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế của Tỉnh giai đoạn 2005 – 2010 tăng từ 856.172 triệu đồng (gấp 3 lần) trong đó kinh tế ngoài nhà nước chiếm 95%. Tình hình phát triển xã hội[2] - Về giáo dục và đào tạo, tỉnh đã quan tâm đầu tư xây dựng kiên cố hóa trường lớp bằng nguồn ngân sách nhà nước và huy động nhằm xóa tình trạng “tranh tre, nứa lá” và tình trạng học ca ba vào đầu năm học.
Tổng số học sinh đầu năm học 2010 8 (chia ra mẫu giáo,tiểu học ,THCS, PTTH) là 212. Số xã phường đạt chuẩn phổ cạp giáo dục tiểu học đúng tuổi là 63/111 xã.Tỷ lệ xã phường dật phổ cập trung học cơ sở là 97,3%,xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đạt 100%, tỷ lệ số trường đạt tiêu chuản quốc gia là 9,4%. - Về y tế, năm 2010 có 129 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó 9 bệnh viện và 8 phòng khám đa khoa khu vực,111 trạm y tế xã, phường, thị trấn với 1.785 giường bệnh, 1.953 cán bộ y tế, trong đó có 396 bác sĩ; bình quân có 5,7 bác sĩ/vạn dân. Trong những năm qua, ngành đã thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, công tác phòng chống dịch bệnh.
Giao thông vận tải Đối với hệ thống đường giao thông, trong những năm qua tỉnh đã tập trung phần lớn nguồn ngân sách xây dựng cơ bản, vay ngân hàng lãi suất thấp, đầu tư theo phương thức BOT, vốn huy động từ trong dân và từ các doanh nghiệp để sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới nhiều tuyến đường trọng yếu phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế và bảo vệ, củng cố an ninh quốc phòng. Các tuyến đường vào trung tâm các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc cũng được mở mới phục vụ thiết thực nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân. Đã có 111/111 xã, thị trấn đã có đường nối đến trung tâm xã, trong đó có 108/111 xã, thị trấn có đường nối đã được nhựa hóa còn 3 xã là đường cấp phối. Thủy lợi Trên địa bàn tỉnh có 45 công trình thủy lợi đang hoạt động, trong đó có 39 hồ chứa (không kể thủy điện Thác Mơ), 7 đập dâng với năng lực thiết kế phục vụ tưới tiêu cho 4.836 ha diện tích đất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt cho thị xã Đồng Xoài, một số xã,thị trấn và nông trường, trang trại.
Điện Mạng lưới điện ngày càng được mở rộng đến các xã, các khu trung tâm, đến các vùng sâu. Tính đến cuối năm 2010 ngành điện đã đầu tư xây dựng được 2.053,45 km đường dây trung thế, 1.963,5 km đường hạ thế và có 100% xã, phường, thị trấn đã sử dụng điện lưới quốc gia. Tổng số hộ sử dụng điện năm 2010 ước tính đạt 87%. Bưu chính viễn thông 9 Tỉnh đã đầu tư mở rộng và hiện đại hóa mạng lưới viễn thông, mở rộng vùng phủ sóng, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trên địa bàn, đến năm 2010 số lượng đạt khoảng 1.498 máy (trong đó cố định là 150.644 máy, di động là 1.854 máy), nâng số máy bình quân/100 dân từ 10 máy (năm 2005) lên 135 máy (năm 2010).
Cấp thoát nước Nhìn chung lĩnh vực cấp nước, kể cả cấp nước đô thị và nước sạch phục sinh hoạt ở khu vực nông thôn chưa phát triển. Tỷ lệ số dân được dùng nước sạch đạt 84,1% thấp hơn so với Nghị quyết Tỉnh đảng bộ đề ra là 85%. Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội[2] 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của tỉnh đã được bổ sung, tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật từ các nguồn giáo dục đào tạo cho người lao động và kết hợp được truyền thống văn hóa của địa phương.
Hiện có trên 547 ngàn người trong độ tuổi lao động, và dự báo đến năm 2015 là 530 ngàn người trong độ tuổi lao động. Tài nguyên đất Tỉnh Bình Phước có tổng diện tích đất tự nhiên là 685.735 ha, có 7 nhóm đất chính với 13 loại đất. Đất có chất lượng cao trở lên (Đất đen, đất đỏ bazan, đất phù sa) chiếm 61,1% tổng diện tích tự nhiên, đất chất lượng trung bình chiếm 36,9%. Là một trong những tỉnh có chất lượng đất khá tốt so với cả nước.
Đây là điều kiện hết sức quan trọng cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt các cây công nghiệp nguyên liệu có giá trị cao. Tài nguyên nước Nguồn nước mặt: Với hệ thống sông, suối tương đối nhiều có mật độ 0,7- 0,8 km/km2, bao gồm sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Măng và nhiều suối lớn. Ngoài ra còn có một số hồ như Suối Lam, Suối Cam, hồ chứa nước thuộc thủy điện Thác Mơ (dung tích 1,47 tỷ m3), Cần Đơn, Sóc Phú Miêng.
Nguồn nước ngầm: Các vùng thấp dọc theo các con sông và suối, nhất là phía Tây-Nam tỉnh, có nguồn nước khá phong phú có thể khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt. 10 + Tầng chứa nước Bazal (QI-II): Phân bố trên quy mô hơn 4000 km2 có lưu lượng tương đối khá 0,5-16 l/s.