Luận văn về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Tổng công ty May 10

Chuyên khảo luật học phân tích Luận văn đại học thương mại pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Trường đại học

Tổng công ty May 10

Chuyên ngành

Luật Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1. Một số khái niệm cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa

1.3. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.4. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT

1.4.1. Luật quốc gia

1.4.2. Luật quốc tế

1.4.2.1. Điều ước quốc tế
1.4.2.2. Tập quán thương mại quốc tế
1.4.2.3. Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại

2. CHƯƠNG 2: GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1. Pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng MBHHQT

2.1.1. Giao kết hợp đồng MBHHQT trực tiếp

2.1.2. Giao kết hợp đồng MBHHQT gián tiếp

2.1.3. Giao kết hợp đồng MBHHQT qua thương mại điện tử

2.2. Pháp luật điều chỉnh vấn đề thực hiện hợp đồng MBHHQT

2.2.1. Giao hàng và chứng từ liên quan

2.2.2. Giao chứng từ liên quan

2.2.3. Chuyển giao quyền sở hữu và rủi ro từ người bán sang người mua

2.2.3.1. Thời điểm chuyển quyền sở hữu
2.2.3.2. Thời điểm chuyển rủi ro

2.2.4. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng MBHHQT

2.2.4.1. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm
2.2.4.2. Các hình thức trách nhiệm

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ, THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY MAY 10 VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ

3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh việc giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT

3.2. Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT tại Tổng công ty may 10

3.2.1. Khái quát hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Tổng công ty may 10

3.2.2. Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT ở Tổng công ty may 10

3.2.2.1. Thực tiễn giao kết hợp đồng MBHHQT tại Tổng công ty may 10
3.2.2.2. Thực tiễn thực hiện hợp đồng MBHHQT tại Tổng công ty may 10

3.2.3. Một số tồn tại trong thực tiễn thực hiện giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT tại Tổng công ty may 10

3.3. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT

3.3.1. Đề xuất hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hợp đồng MBHHQT

3.3.1.1. Hoàn thiện, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT
3.3.1.2. Hoàn thiện quy định về khái niệm, nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
3.3.1.3. Hoàn thiện quy định về chủ thể hợp đồng mua bán quốc tế
3.3.1.4. Phê chuẩn các điều ước quốc tế về thương mại
3.3.1.5. Giảm bớt thủ tục hải quan

3.3.2. Đề xuất về phía Tổng công ty may 10

3.3.2.1. Đối với nghiệp vụ đàm phán và giao kết hợp đồng
3.3.2.2. Đối với quá trình thực hiện hợp đồng MBHHQT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Tổng công ty May 10

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một phần quan trọng trong hoạt động thương mại của Tổng công ty May 10. Với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, việc ký kết và thực hiện các hợp đồng này không chỉ giúp công ty mở rộng thị trường mà còn nâng cao giá trị thương hiệu. Tổng công ty May 10 đã áp dụng nhiều phương pháp để tối ưu hóa quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau. Điều này không chỉ bao gồm việc chuyển giao hàng hóa mà còn liên quan đến các quy định pháp lý quốc tế.

1.2. Vai trò của hợp đồng trong hoạt động thương mại

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên. Nó giúp bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và giảm thiểu rủi ro trong giao dịch thương mại.

II. Thách thức trong việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Tổng công ty May 10 gặp phải nhiều thách thức. Những vấn đề này bao gồm sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia, rủi ro trong vận chuyển hàng hóa và các yếu tố kinh tế chính trị. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động thương mại.

2.1. Khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia

Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng, điều này có thể dẫn đến những hiểu lầm và tranh chấp trong quá trình giao kết hợp đồng. Tổng công ty May 10 cần nắm rõ các quy định pháp luật của đối tác để tránh rủi ro.

2.2. Rủi ro trong vận chuyển hàng hóa

Vận chuyển hàng hóa quốc tế luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hư hỏng, mất mát. Tổng công ty May 10 cần có các biện pháp bảo hiểm và quản lý rủi ro hiệu quả để bảo vệ lợi ích của mình.

III. Phương pháp giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiệu quả

Tổng công ty May 10 đã áp dụng nhiều phương pháp để tối ưu hóa quy trình giao kết hợp đồng. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong giao dịch và quản lý hợp đồng đã giúp công ty tiết kiệm thời gian và chi phí. Ngoài ra, việc đào tạo nhân viên về kỹ năng đàm phán cũng là một yếu tố quan trọng.

3.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong giao kết

Công nghệ thông tin giúp Tổng công ty May 10 quản lý hợp đồng một cách hiệu quả hơn. Việc lưu trữ và truy xuất thông tin nhanh chóng giúp giảm thiểu sai sót trong quá trình giao kết.

3.2. Đào tạo kỹ năng đàm phán cho nhân viên

Đào tạo kỹ năng đàm phán cho nhân viên là một trong những phương pháp quan trọng giúp Tổng công ty May 10 nâng cao khả năng thương thuyết và đạt được các điều khoản có lợi trong hợp đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Tổng công ty May 10

Tổng công ty May 10 đã áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Những kết quả đạt được từ các hợp đồng này không chỉ giúp công ty tăng trưởng doanh thu mà còn củng cố vị thế trên thị trường quốc tế.

4.1. Kết quả đạt được từ hợp đồng quốc tế

Các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã giúp Tổng công ty May 10 mở rộng thị trường và tăng trưởng doanh thu. Những thành công này là minh chứng cho sự hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Từ thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng, Tổng công ty May 10 đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những bài học này sẽ giúp công ty cải thiện quy trình và nâng cao hiệu quả trong tương lai.

V. Kết luận và hướng phát triển hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Tổng công ty May 10 cần tiếp tục hoàn thiện quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Việc cải thiện pháp luật và áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro sẽ giúp công ty phát triển bền vững trong tương lai.

5.1. Đề xuất hoàn thiện quy trình hợp đồng

Cần có những cải tiến trong quy trình giao kết hợp đồng để giảm thiểu rủi ro và tăng cường hiệu quả. Việc này bao gồm việc cập nhật các quy định pháp luật mới và áp dụng công nghệ hiện đại.

5.2. Tương lai của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Tổng công ty May 10 cần chuẩn bị sẵn sàng để nắm bắt cơ hội và đối mặt với thách thức trong tương lai.

25/07/2025
Luận văn đại học thương mại pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và thực ti n áp dụng tại tổng công ty may 10 ctcp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1. Hợp đồng Thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) có nghĩa là ràng buộc, xuất hiện đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V – IV trước công nguyên. Sau khi đế quốc La Mã tan rã, các nước châu Âu đã chấp nhận dùng thuật ngữ “hợp đồng” khởi nguồn từ La Mã.

Xuất phát từ thuật ngữ “contractus”, trong tiếng Anh thuật ngữ này được gọi là “contract”, trong tiếng Pháp là “contrat”, tiếng Nga là “kontrakt”… Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến thuật ngữ này có thể gọi là “khế ước” và đến ngày nay từ “hợp đồng” đã trở nên gần gũi hơn sau quá trình phát triển của hệ thống pháp luật nước ta.[1] Về khái niệm hợp đồng, cũng có nhiều quan điểm khác nhau theo thời gian. Theo Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới (Bộ luật dân sự Pháp năm 1804) thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc” hoặc theo Bộ luật dân sự Liên bang Nga năm 1994: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”… Với Việt Nam, nếu như trước đây khái niệm “khế ước” còn chưa để lại nhiều dấu ấn thì sau khi cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm “hợp đồng” đã thực sự thể hiện được vị trí của nó trong đời sống xã hội. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, có thể định nghĩa hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể.

Hợp đồng mua bán hàng hóa Trước hết, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.[2] Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa. 1[?] Theo Nguyễn Ngọc Khánh (2006), Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, tr.38 2[?] Theo Điều 3 Luật thương mại năm 2005 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Luật thương mại nước ta không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.

Hàng hóa được hiểu là động sản cho nên hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản. Theo đó đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận và là hợp đồng song vụ có tính đền bù.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này song đều thống nhất chung một quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng có tính quốc tế. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế như sau: Điều 1 Công ước La Haye năm 1964 (Công ước về Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình) quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa trong hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau”. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau” [3]. Khác với Công ước La Hye năm 1964, các yếu tố như địa điểm ký kết hợp đồng, việc dịch chuyển qua biên giới đối với đối tượng của hợp đồng không được Công ước Viên năm 1980 đề cập tới.

Công ước Viên năm 1980 cho thấy tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được xác định bởi yếu tố duy nhất là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Theo đó, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí 3[?] Căn cứ Điều 1 Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. Ngoài các công ước quôc tế, với hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo pháp luật Pháp việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa được căn cứ vào tiêu chí kinh tế hoặc pháp lý.

Về tiêu chí kinh tế, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế khi nó tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước. Về tiêu chí pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán [4]. Còn ở Việt Nam, căn cứ theo Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu[5]; qua đó gián tiếp bác bỏ quốc tịch khi xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Như vậy, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Việc sử dụng khái niệm này vẫn phải dựa trên căn cứ pháp lý là các nguồn luật khác nhau điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế.4 Giao kết hợp đồng MBHHQT Giao kết hợp đồng dân sự là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận nhằm xác định quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 389 luật dân sự quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự). Giao kết hợp đồng MBHHQT là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các chủ thể là thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các nước khác nhau theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận nhằm xác định quyền và nghĩa vụ dân sự.5 Thực hiện hợp đồng MBHHQT Hợp đồng giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên. Thực hiện hợp đồng là thực hiện những quyền và nghĩa vụ đã phát sinh trong hợp đồng. Thông thường với các loại hợp đồng dân sự thì quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia.

Vì vậy thực hiện nghĩa vụ của bên này là đảm bảo quyền của bên kia. Đề đảm bảo quyền của các bên giao kết hợp đồng, BLDS 2005 đã nêu một số nguyên tắc cơ bản cho việc thực hiện 4[?] Theo Nguyễn Thị Tuyết Giang, Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr.16 5[?] Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp đồng tại điều 412, đó là các nguyên tắc: Một là, nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng, bao gồm thực hiện đúng đối tượng của hợp đồng, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức thực hiện và các thỏa thuận khác mà các bên đã cam kết. Việc thực hiện không đúng hợp đồng sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng, là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và có thể gây thiệt hại cho các bên tham gia. Hai là, nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên đảm bảo tin cậy lẫn nhau.

Nguyên tắc này có ý nghĩa nhằm ngăn chặn sự tối nghĩa trong hợp đồng để làm lợi cho một bên. Việc thực hiện hợp đồng không chỉ đòi hỏi sự trung thực của các bên mà còn cần đến tinh thần hợp tác giúp đỡ, tin cậy lẫn nhau. Nhằm đảm bảo hợp đồng thực hiện một cách thuận lợi nhất, tạo lợi ích lớn nhất cho các bên. Ba là, nguyên tắc thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của người khác.

Mặc dù cho phép các chủ thể tự do tham gia quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng, pháp luật quy định nguyên tắc này nhằm giới hạn sự tự do của các chủ thể khi thực hiện hợp đồng nhằm kết hợp hài hòa giữa các lợi ích trong xã hội. Thực hiện hợp đồng MBHHQT là thực hiện quyền và nghĩa vụ đã được phát sinh trong hợp đồng MBHHQT. Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.2 Đặc điểm cúa hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ