Luận văn về hợp đồng lao động và thực tiễn tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long

Luận văn phân tích pháp luật về hợp đồng lao động tại công ty cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long, cung cấp cái nhìn thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

55
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

1.1. Khái quát chung về hợp đồng lao động

1.2. Khái niệm hợp đồng lao động

1.3. Đặc điểm hợp đồng lao động

1.4. Phân loại hợp đồng lao động

1.5. Vai trò của hợp đồng lao động

1.6. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động

1.6.1. Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động

1.6.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động

1.6.3. Một số nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về hợp đồng lao động

1.6.3.1. Nguyên tắc tự do, tự nguyện
1.6.3.2. Nguyên tắc bình đẳng
1.6.3.3. Nguyên tắc không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể
1.6.3.4. Nguyên tắc bảo vệ NLĐ
1.6.3.5. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ GIỚI VÀ XÂY DỰNG THĂNG LONG

2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần cơ giới và Xây dựng Thăng Long và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty

2.1.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần cơ giới và Xây dựng Thăng Long

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động

2.2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng lao động

2.2.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng lao động

2.2.3. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

2.2.4. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về chấm dứt hợp đồng lao động

2.2.5. Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp trong lao động

2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.3.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.3.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.3.4. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về chấm dứt hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.3.5. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

2.4. Đánh giá chung

2.4.1. Đánh giá chung về thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động

2.4.2. Đánh giá về thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần cơ giới và xây dựng Thăng Long

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long

3.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thiết lập quan hệ lao động tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long. HĐLĐ không chỉ là văn bản pháp lý mà còn là công cụ để bảo vệ quyền lợi của người lao động (NLĐ) và nghĩa vụ của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Việc hiểu rõ về HĐLĐ giúp các bên tham gia có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách hiệu quả.

1.1. Khái niệm và vai trò của hợp đồng lao động

HĐLĐ được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công. HĐLĐ không chỉ xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên mà còn là cơ sở để giải quyết tranh chấp lao động. Vai trò của HĐLĐ trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay.

1.2. Các loại hợp đồng lao động tại Công ty

Tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long, có nhiều loại HĐLĐ như HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ không xác định thời hạn và HĐLĐ theo mùa vụ. Mỗi loại HĐLĐ có những đặc điểm và quy định riêng, phù hợp với nhu cầu và tính chất công việc của công ty.

II. Vấn đề và thách thức trong thực hiện hợp đồng lao động

Mặc dù HĐLĐ có vai trò quan trọng, nhưng việc thực hiện HĐLĐ tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long vẫn gặp nhiều thách thức. Những vấn đề này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ và sự phát triển bền vững của công ty.

2.1. Quyền lợi của người lao động chưa được đảm bảo

Một trong những thách thức lớn nhất là việc đảm bảo quyền lợi của NLĐ. Nhiều NLĐ vẫn chưa được hưởng đầy đủ các quyền lợi như bảo hiểm xã hội, thời gian nghỉ phép và các chế độ phúc lợi khác. Điều này dẫn đến sự không hài lòng và có thể gây ra tranh chấp lao động.

2.2. Điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động

Việc chấm dứt HĐLĐ tại Công ty cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều NLĐ không hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi chấm dứt HĐLĐ, dẫn đến những tranh chấp không đáng có. Điều này cần được giải quyết thông qua việc nâng cao nhận thức về pháp luật lao động.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề hợp đồng lao động hiệu quả

Để giải quyết các vấn đề liên quan đến HĐLĐ, Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long cần áp dụng các phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng thực hiện HĐLĐ và bảo vệ quyền lợi của NLĐ.

3.1. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Công ty cần tổ chức các khóa đào tạo về pháp luật lao động cho cả NLĐ và NSDLĐ. Việc này giúp các bên hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó giảm thiểu tranh chấp lao động.

3.2. Cải thiện quy trình giao kết hợp đồng lao động

Cần có quy trình giao kết HĐLĐ rõ ràng và minh bạch. Điều này không chỉ giúp NLĐ hiểu rõ hơn về HĐLĐ mà còn tạo sự tin tưởng giữa NLĐ và NSDLĐ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Công ty

Nghiên cứu thực tiễn về HĐLĐ tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại không ít vấn đề cần khắc phục. Việc áp dụng các quy định pháp luật về HĐLĐ cần được thực hiện một cách nghiêm túc.

4.1. Kết quả đạt được trong việc thực hiện HĐLĐ

Công ty đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc thực hiện HĐLĐ, như việc ký kết HĐLĐ đúng quy định và đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện.

4.2. Những tồn tại và hạn chế trong thực tiễn

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế trong việc thực hiện HĐLĐ, như việc chưa đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho NLĐ và quy trình chấm dứt HĐLĐ còn nhiều bất cập.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của hợp đồng lao động

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy HĐLĐ đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập quan hệ lao động tại Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long. Để phát triển bền vững, cần có những cải cách trong việc thực hiện HĐLĐ.

5.1. Đề xuất cải cách pháp luật về HĐLĐ

Cần có những cải cách trong hệ thống pháp luật về HĐLĐ để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của NLĐ và tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ.

5.2. Tương lai của hợp đồng lao động tại Công ty

Trong tương lai, Công ty Cổ phần Cơ giới và Xây dựng Thăng Long cần tiếp tục cải thiện quy trình thực hiện HĐLĐ, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1.Khái quát chung về hợp đồng lao động 1. Khái niệm hợp đồng lao động Nền kinh tế thị trường ra đời cùng với sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội trong đó quan hệ lao động được xem là có tính đa dạng và phức tạp, gắn liền với một loại hàng hóa đặc biệt, đó chính là “sức lao động”. Sự vận hành của quy luật cung cầu trong thị trường sức lao động đã dẫn tới các bên có nhu cầu mua và bán tìm đến nhau. Đây chính là căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động, các bên trong quan hệ pháp luật lao động có quyền tự nguyện thỏa thuận với nhau về các quyền và nghĩa vụ của mình bởi vậy các quan hệ HĐLĐ mang tính chất tự do, tự nguyện và bình đẳng.

HĐLĐ được xem như hình thức pháp lý linh hoạt, phù hợp với cơ chế của nền kinh tế thị trường, trong đó NLĐ có quyền lựa chọn công việc còn NSDLĐ có quyền lựa chọn nhân sự phù hợp làm việc cho mình. Ở một số quốc gia khác, người ta quan niệm pháp luật lao động thuộc hệ thống luật tư vậy nên HĐLĐ là loại hợp đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh của chế định về hợp đồng dân sự. Điển hình như ở Đức, Pháp luật lao động chưa có điều luật nào quy định cụ thể riêng biệt về khái niệm HĐLĐ, mà coi nó là một loại hợp đồng dân sự. Còn ở Trung Quốc, khi mà các văn bản pháp luật về lao động nói chung và HĐLĐ nói riêng dần được ban hành và hoàn thiện từ năm 1977, thì khái niệm HĐLĐ được định nghĩa “là sự hiệp nghị (thỏa thuận) xác nhận quan hệ lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ.

Xây dựng quan hệ lao động cần phải lập HĐLĐ”. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa làm rõ được nội dung của HĐLĐ. Ở Việt Nam, HĐLĐ được ghi nhận trong các văn bản pháp lý, qua các thời kỳ khác nhau. HĐLĐ lúc ban đầu có tên như “khế ước làm công” được ghi nhận trong sắc lệnh số 29 ngày 12 tháng 03 năm 1947 như sau: “ Khế ước làm công phải theo dân luật.

Chủ và công nhân có thể giao kết bằng miệng, hoặc ký kết trên mặt giấy. Khi viết thành giấy, thì được miễn tem và thuế trước bạ. Khế ước có thể lặp theo tục lệ địa phương. Nếu chỉ giao kết bằng miệng thì như chủ với công nhân đã theo những điều khoản ấn định trong Sắc lệnh này và những tục lệ riêng của nơi sở tại”.

Theo định nghĩa trên, chủ thể của khế ước làm công là giới chủ và công nhân, cách dùng từ gây nên sự bất bình đẳng về vị trí các bên trong quan hệ lao động, trong khi đây là quan hệ được thiết lập dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện nên vị trí các chủ thể cần phải có sự ngang bằng. Ngoài ra, khế ước làm công có thể lặp theo tục lệ địa phương gây nên sự thiếu nhất quán do mỗi tục lệ địa phương là khác nhau. Điều 26, BLLĐ 1994 quy định: “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. BLLĐ 1994 đã khắc phục một số hạn chế từ Sắc lệnh số 29.

“Khế ước làm công” được thay bằng HĐLĐ, chủ thể tham gia quan hệ lao động không còn là giới chủ và công nhân mà là NLĐ và NSDLĐ. Vốn dĩ vị thế của người làm công luôn ở thế yếu nên tên gọi “công nhân” thay bằng NLĐ khiến họ thấy mình có vị trí bình đẳng với NSDLĐ, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện thỏa thuận khi tham gia giao kết HĐLĐ. Song dù là tên gọi nào thì đều mang một yếu tố nền tảng của HĐLĐ đó là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về một việc làm nhất định. Dưới góc độ kinh tế, HĐLĐ được xác định giữa người mua và người bán một thứ hàng hóa đặc biệt được gọi tên là “sức lao động”.

Loại hàng hóa này tồn tại ở mỗi con người cụ thể, nhưng không tồn tại ở dạng độc lập mà gắn liền với các yếu tố khác như thể chất, trí tuệ, nhân cách mỗi con người,.Nói một cách khác, HĐLĐ là bằng chứng cho mối quan hệ mua bán sức lao động. Hiện nay trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm HĐLĐ được quy định tại Điều 15 BLLĐ 2012 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013), “hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. So với BLLĐ 1994, khái niệm này vẫn được giữ nguyên và được coi là khái niệm pháp lý chính thức về HĐLĐ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Như vậy, khái niệm về HĐLĐ trong thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng điểm chung duy nhất giữa các quan niệm đều là kết quả của sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ.

Đó là sự thống nhất ý chí của các bên về nội dung của hợp đồng mà các bên muốn đạt được. Đây là loại quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Đặc điểm hợp đồng lao động HĐLĐ là một loại khế ước nên nó mang những đặc điểm chung của hợp đồng: là sự thỏa thuận trên cơ sở tự do, tự nguyện, bình đẳng của các chủ thể. Tuy nhiên, vì đây là hình thức pháp lý của quá trình trao đổi, mua bán loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động, nên nó có những đặc điểm riêng so với các thỏa thuận khác.

HĐLĐ mang những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công. Mặc dù HĐLĐ là một loại quan hệ mua bán đặc biệt. Một trong những khía cạnh đặc biệt của quan hệ này thể hiện ở chỗ hàng hóa mang trao đổi – đó là sức lao động, luôn tồn tại gắn liền với cơ thể NLĐ. Do đó, khi NSDLĐ mua hàng hóa là sức lao động thì các mà họ được "sở hữu" đó là một quá trình lao động biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ý thức… của NLĐ và để 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện được những yêu cầu nói trên, NLĐ phải cung ứng sức lao động từ thể lực và trí lực của chính mình biểu thị qua những thời gian được xác định( ngày làm việc, tuần làm việc…).

Như vậy lao động được mua bán trên thị trường không phải là lao động trừu tượng mà là lao động thể hiện thành việc làm. Người ta có thể quan niệm việc làm theo nhiều cách khác nhau, nhưng với tư cách là đối tượng của HĐLĐ thì bao giờ nó cũng có một liên hệ xác định. Nói cách khác, cũng như mọi quan hệ mua bán khác, việc làm – như một thứ hàng hóa đem bán trên thị trường thì phải có ích, đem lại cái lợi cho người mua và bán nó. Việc xác định đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công, không chỉ có ý nghĩa trong việc đưa ra một trong những căn cứ để phân biệt HĐLĐ với những hợp đồng khác có nội dung tương tự mà còn có ý nghĩa với chính quan hệ HĐLĐ, chẳng hạn ở khía cạnh xác định chủ thể trong quan hệ lao động.

Thứ hai, HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện. Sức lao động và trí tuệ là phụ thuộc vào mỗi các người khác nhau. Mặt khác, lao động ở đây là lao động sống, lao động đang diễn ra nên ngoài yếu tố khả năng lao động, trình độ chuyên môn của NLĐ, NSDLĐ còn quan tâm đến tâm lý đạo đức, ý thức,… NLĐ để quyết định tuyển dụng. Do đó, NLĐ phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, không được dịch chuyển cho người thứ ba.

Mặt khác, trong HĐLĐ, ngoài những quyền lợi hai bên thỏa thuận, NLĐ còn có một số chế độ, quyền lợi theo quy định của pháp luật như quyền nghỉ hằng năm, lễ tết; hưởng bảo hiểm xã hội… và chỉ được hiện thực hóa trên cơ sở cống hiến xã hội của NLĐ. Vậy, để được hưởng những quyền lợi trên, NLĐ phải trực tiếp thực hiện HĐLĐ. Thứ ba , trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ với NSDLĐ. Đây là đặc trưng được coi là tiêu biểu nhất của HĐLĐ, pháp luật lao động các nước trên thế giới đều ghi nhận sự phụ thuộc pháp lý hay yếu tố quản lý trong quan hệ lao động trong phạm vi nhất định vừa đảm bảo quyền lợi của NSDLĐ, vừa đảm bảo các vấn đề liên quan tới NLĐ.

Trước hết, HĐLĐ mang những đặc điểm chung của một hợp đồng, đó là sự tự do, tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Ngoài ra HĐLĐ cũng có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ đối tượng của HĐLĐ là sức lao động sống của NLĐ. Sự phụ thuộc pháp lý hay yếu tố quản lý của NLĐ với NSDLĐ ở đây mang tính khách quan. Đó là vì, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình sản xuất, của quyền tổ chức, quản lý quá trình lao động của NSDLĐ đưa đến.Khi tham gia quan hệ HĐLĐ, mỗi NLĐ thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hóa, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động.

Muốn vậy, NSDLĐ phải có quyền tổ chức, quản lý, điều hành đối với các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động lao động đơn lẻ của từng NLĐ. Ngoài ra, sự phụ thuộc pháp lý trong quan hệ lao động là hệ quả tất yếu của đặc điểm đối tượng của HĐLĐ đó chính là sức lao động gắn liền với NLĐ và để NSDLĐ nhận được cái họ mua thì NLĐ phải tự đặt mình dưới quyền quản lý của NSDLĐ. Thứ tư, HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định. Thời hạn của HĐLĐ có thể được xác định rõ từ ngày có hiệu lực đến một thời điểm nào đó, hoặc không xác định trước điểm kết thúc.

Ở đây, các bên, đặc biệt là NLĐ, không có quyền lựa chọn hay làm việc theo ý chủ quan, mà công việc phải được thi hành tuần tự theo thời gian được NSDLĐ xác định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ