Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn, tộc ngƣời nghiên cứu. Chương 2: Hôn nhân của ngƣời Tày ở xã Tô Hiệu trƣớc đổi mới. Chương 3: Biến đổi hôn nhân của ngƣời Tày từ đổi mới đến nay. 9 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN, TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu hôn nhân của ngƣời Tày ở tỉnh Lạng Sơn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin.
Theo đó, đối tƣợng nghiên cứu đƣợc xem xét trong mối quan hệ khách quan, biện chứng, vận động và phát triển, theo lịch đại và đồng đại, từ truyền thống đến hiện đại. Sự biến đổi trong hôn nhân của ngƣời Tày đƣợc nhìn nhận trong mối tƣơng tác với các điều kiện kinh tế - xã hội, giao lƣu tiếp biến văn hóa, tác động của hội nhập khu vực và toàn cầu hóa.1 Một số khái niệm cơ bản Trong phạm vi nghiên cứu đƣợc xác định, luận văn sẽ làm rõ nội hàm một số khái niệm liên quan, nhƣ: Hôn nhân, Ngoại hôn dòng họ, Nội hôn tộc người, Hôn nhân hỗn hợp dân tộc, Nghi lễ đám cưới, Sính lễ, Của hồi môn, Tục ở rể, Truyền thống, Biến đổi. - Khái niệm Hôn nhân: Hôn nhân có nghĩa là việc kết hôn giữa nam và nữ. Theo Từ điển nhân học: “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục dích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới” [78, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Hôn nhân là một thể chế xã hội kèm theo nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ) được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới” [77, tr. Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A. Schultz VAF Robobert H.
Lavenda cho rằng: “Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của 11 nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm”. Theo hai nhà nghiên cứu này, hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con cái do ngƣời vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng. Trong Luật Hôn nhân và Gia đình của Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”, theo đó, Luật này cũng định nghĩa: “Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng. Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [48, mục 1, 4, 5; điều 3].
Nội hàm của hôn nhân còn bao gồm các quan niệm và nguyên tắc hôn nhân, hình thức hôn nhân, nguyên tắc và hình thức cƣ trú sau hôn nhân. Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn cũng tìm hiểu một số khái niệm khác liên quan đến hôn nhân để thấy đƣợc bản sắc tộc ngƣời của họ gồm: Nội hôn tộc người: Là quy tắc chỉ kết hôn với ngƣời đồng tộc hay cùng một nhóm tộc ngƣời (nhóm địa phƣơng) với mình, mà không kết hôn với ngƣời của dân tộc khác. Ngoại hôn dòng họ là những quy tắc kết hôn ngoài dòng họ của mình, đƣợc quy định bởi luật tục hay tập quán pháp. - Khái niệm Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Là chỉ sự kết hôn giữa hai ngƣời không cùng một dân tộc.
- Khái niệm Nghi lễ hôn nhân: Đƣợc hiểu là các nghi lễ diễn ra theo tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân. Để tiến đến hôn nhân cũng nhƣ để hoàn tất các cuộc hôn nhân, đôi trai gái và hai bên gia đình của họ phải thực hiện những nghi lễ nhất định, theo quy định mang tính 12 tập quán pháp của một tộc ngƣời cũng nhƣ địa phƣơng của họ. Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích đảm bảo sự chứng kiến và công nhận của cộng đồng và gia đình, ngoài ra nó còn chứa đựng một số yếu tố tâm linh. - Khái niệm Truyền thống: Truyền thống đƣợc hiểu là thói quen đƣợc hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ, của mỗi cá nhân hay một cộng đồng và đƣợc trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
- Khái niệm Biến đổi: Là sự thay đổi thành khác trƣớc hoặc sự thay đổi, điều thay đổi khác với trƣớc. Cũng nhƣ các yếu tố văn hóa khác, hôn nhân không phải là bất biến, mà nó luôn vận động, thích hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của thực tiễn. Các lý thuyết tiếp cận Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng một số quan điểm lý thuyết trong Dân tộc học/Nhân học để làm cơ sở cho việc phân tích và nhận định, đó là: - Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người Bản sắc tộc ngƣời là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trƣng và đặc thù của một tộc ngƣời, giúp phân biệt tộc ngƣời này và tộc ngƣời khác, và giữa các nhóm khác nhau của cùng một tộc ngƣời. Bản sắc tộc ngƣời đƣợc hình thành lâu dài trong lịch sử, gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trƣờng tự nhiên của tộc ngƣời.
Bản sắc tộc ngƣời có sức sống lâu bền, ngay cả khi đời sống của tộc ngƣời đã có những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc tộc ngƣời còn thể hiện bản lĩnh của tộc ngƣời [57, tr. Vì vậy áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người giúp tác giả luận văn nhận diện đƣợc rõ những sắc thái riêng trong hôn nhân của ngƣời Tày ở xã Tô Hiệu. - Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa Lý thuyết này đƣợc trƣờng phái Nhân học Anglo – Saxon đƣa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa 13 khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa.
Theo các nhà nhân học Mỹ, giao lƣu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hƣởng bởi một nền văn hóa khác bằng cách vay mƣợn nhiều nét đặc trƣng. Sự giao lƣu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình. Tiếp biến văn hóa còn đƣợc hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn [57, tr.
Nhƣ vậy, lý thuyết về giao lƣu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật và hiện tƣợng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc ngƣời nói chung và hôn nhân nói riêng. Ngày nay, dƣới sự tác động của quá trình phát triển, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, và xu hƣớng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lƣu, biến đổi văn hóa của các tộc ngƣời, trong đó có hôn nhân của ngƣời Tày là không tránh khỏi. Do đó, khi nghiên cứu văn hóa tộc ngƣời, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn nhân của ngƣời Tày ở xã Tô Hiệu, tác giả luận văn không thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà luôn đặt chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến đổi, tiếp biến. - Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi Là nghi lễ đánh dấu sự thay đổi địa vị xã hội của con ngƣời do nhà dân tộc học ngƣời Pháp Arnold Van Gennep (1873 – 1975) đƣa ra vào thế kỷ XX.
Nghi lễ chuyển đổi thƣờng đi kèm với những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời ngƣời nhƣ việc ra đời của đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, thƣợng thọ [57, tr. Tác giả luận văn đã vận dụng lý thuyết về nghi lễ 14 chuyển đổi để nghiên cứu việc thực hành các nghi lễ hôn nhân của ngƣời Tày ở xã Tô Hiệu. Khái quát về địa bàn, tộc ngƣời nghiên cứu 1. Đôi nét về địa bàn nghiên cứu - Khái quát về huyện Bình Gia Trƣớc khi thực dân Pháp xâm chiếm Lạng Sơn lần thứ nhất, Bình Gia vốn là tên gọi của một xã gồm 2 thôn: Nƣa Toóc và Phai Lay (nay là thôn Ngọc Quyến và thôn Phai Lay thuộc xã Tô Hiệu).
Từ năm 1885 – 1890, khi thực dân Pháp đặt ách cai trị ở đây, chúng đã gộp các tổng xung quanh Bình Gia thành một đơn vị hành chính có tên gọi chung là Châu Bình Gia. Từ năm 1947, Châu Bình Gia đƣợc đổi thành huyện Bình Gia [44, tr.3] Huyện lỵ Bình Gia cách thành phố Lạng Sơn 75 km về phía Tây Bắc. Phía bắc giáp huyện Tràng Định và huyện Na Rì (Bắc Cạn), phía nam giáp huyện Văn Quan, phía đông giáp huyện Văn Lãng, phía tây giáp huyện Bắc Sơn. Bình Gia rộng 1.090,66km2 với 2/3 diện tích là đồi núi và 1/3 là đất ruộng, đất vƣờn nƣơng canh tác [44, tr.3] Dân số huyện Bình Gia, tính đến thời điểm 1/4/2009, là 52.087 ngƣời, trong đó dân tộc Tày có 14.026 ngƣời, chiếm 26,9%, dân tộc Nùng có 32.539 ngƣời, chiếm 62,5%, dân tộc Dao có 3.509 ngƣời, chiếm 6,7%, dân tộc Kinh (Việt) có 1.898 ngƣời, chiếm 3,6%, ngƣời Hoa có 100 ngƣời, chiếm 0,2%, còn lại là một số thành phần dân tộc sống ngụ cƣ khác.
Là một huyện thuộc địa bàn vùng cao miền núi, đồng bào các dân tộc huyện Bình Gia chủ yếu sinh sống bằng nghề nông trồng lúa nƣớc và làm nƣơng rẫy.